Luận án tiến sĩ: Kiểm soát quyền lực nhà nước qua hoạt động chất vấn đại biểu Quốc hội - Vũ Thị Hồng Trang, HVCTQG HCM 2020

Tìm hiểu chất vấn đại biểu Quốc hội trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Phân tích vai trò, quy trình, hiệu quả và ý nghĩa pháp lý của cơ chế giám sát.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

169
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kiểm soát quyền lực nhà nước qua chất vấn

Kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc cốt lõi trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong cơ chế kiểm soát này. Chất vấn cho phép đại biểu yêu cầu người đứng đầu cơ quan nhà nước giải trình về trách nhiệm thực thi công vụ. Đây là hình thức giám sát trực tiếp, mang tính bắt buộc và công khai. Qua chất vấn, quyền lực nhà nước được đặt dưới sự giám sát của nhân dân. Hoạt động này giúp phát hiện sai phạm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Đại biểu Quốc hội đại diện cho ý chí nhân dân thực hiện quyền giám sát tối cao. Chất vấn tại kỳ họp Quốc hội được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Cơ chế này đảm bảo quyền lực nhà nước luôn thuộc về nhân dân. Hiệu quả kiểm soát phụ thuộc vào chất lượng hoạt động chất vấn và cơ chế thực hiện.

1.1. Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước là quá trình giám sát, ràng buộc việc thực thi quyền lực công. Mục đích ngăn ngừa lạm quyền, bảo vệ quyền lợi nhân dân. Cơ chế kiểm soát bao gồm kiểm soát nội bộ và kiểm soát bên ngoài. Kiểm soát bên ngoài do Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân thực hiện. Hoạt động chất vấn thuộc nhóm kiểm soát lập pháp đối với hành pháp. Đây là phương thức hiệu quả đảm bảo quyền lực phục vụ nhân dân.

1.2. Vai trò của hoạt động chất vấn đại biểu Quốc hội

Chất vấn là công cụ giám sát trực tiếp của đại biểu Quốc hội đối với bộ máy nhà nước. Hoạt động này tạo cơ chế trách nhiệm giải trình bắt buộc. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội và cử tri cả nước. Chất vấn giúp phát hiện bất cập trong quản lý, điều hành. Đồng thời kiến nghị giải pháp khắc phục kịp thời. Đây là biểu hiện sinh động của dân chủ đại diện trong hệ thống chính trị.

II. Phân tích thực trạng kiểm soát quyền lực qua chất vấn

Thực tiễn hoạt động chất vấn tại Việt Nam cho thấy nhiều kết quả tích cực. Số lượng câu hỏi chất vấn tăng dần qua các kỳ họp Quốc hội. Chất lượng phiên chất vấn được cải thiện đáng kể. Nhiều vấn đề nóng được đại biểu nêu ra kịp thời. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục. Thời gian chất vấn còn giới hạn, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu giám sát. Một số câu hỏi chất vấn thiếu trọng tâm, lan man. Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận chất vấn chưa hiệu quả. Đại biểu chưa chủ động trong việc lựa chọn đối tượng chất vấn. Cơ chế bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu còn bất cập. Thực trạng này đòi hỏi cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Cần nâng cao chất lượng đại biểu và cơ chế hỗ trợ chuyên môn.

2.1. Kết quả đạt được trong kiểm soát quyền lực

2.2. Hạn chế và nguyên nhân của bất cập

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực qua chất vấn

Nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động chất vấn. Mở rộng thời gian và phạm vi chất vấn tại kỳ họp Quốc hội. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đại biểu Quốc hội. Xây dựng cơ chế hỗ trợ thông tin hiệu quả cho đại biểu. Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động chất vấn. Hoàn thiện cơ chế giám sát việc thực hiện kết luận chất vấn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chất vấn. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả chất vấn định kỳ. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan giám sát. Đảm bảo tính độc lập của đại biểu khi thực hiện quyền chất vấn. Giáo dục ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức.

3.1. Hoàn thiện thể chế pháp luật về chất vấn

3.2. Nâng cao năng lực đại biểu và cơ chế hỗ trợ

IV. Kết luận và ứng dụng kiểm soát quyền lực qua chất vấn

Kiểm soát quyền lực nhà nước qua hoạt động chất vấn là yêu cầu khách quan. Đây là biểu hiện của nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Hoạt động chất vấn góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cho thấy hiệu quả tích cực nhưng vẫn còn hạn chế. Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế chất vấn. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn xây dựng pháp luật. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về hoạt động chất vấn nghị viện. Phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát quyền lực. Xây dựng nền hành chính minh bạch, trách nhiệm. Đẩy mạnh công khai, minh bạch trong hoạt động nhà nước. Nâng cao nhận thức xã hội về quyền kiểm soát quyền lực. Mục tiêu cuối cùng là phục vụ lợi ích nhân dân hiệu quả nhất.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

4.2. Định hướng phát triển hoạt động chất vấn trong tương lai

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.nội dung của luận án gồm có 4 chương với 9 tiết. luan van, khoa luan 11 of 66. tai lieu, document12 of 66. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC Kiểm soát quyền lực nhà nước là một vấn đề trọng yếu của bất kỳ nhà nước nào. Trên thế giới điều này đã được khẳng định rất sớm bới các nhà tư tưởng chính trị- pháp lý thời đại Khai sáng. Các nghiên cứu liên quan về sau chỉ làm rõ hơn về phương thức tổ chức nhà nước và các cơ chế vận hành hệ thống chính trị sao cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả hơn mà thôi. Ở Việt Nam, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có những công trình tiêu biểu sau: Lê Thị Anh Đào, "Kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một số vấn đề cơ bản", Tạp chí khoa học chính trị, số 3 năm 2011.

Công trình này tác giả đã bàn những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát quyền lực, quyền lực nhà nước, tính tất yếu phải kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền. Lưu Văn Quảng Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, đề tài cấp bộ năm 2008. Đề tài đã đặt ra vấn đề phải xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam như một đòi hỏi cấp bách từ việc hoàn thiện thể chế chính trị và bộ máy ở nước ta. Nội dung, các yếu tố của cơ chế kiểm soát quyền lực đã được tập thể tác giả nghiên cứu đề tài đề cập khá đầy đủ.

Pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay của Trần Kim Cúc, tác giả bàn về vai trò của pháp luật và yêu cầu phải có cơ chế pháp lý để kiểm soát quyền lực có hiệu quả. Lâm Quốc Tuấn Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy luan van, khoa luan 12 of 66. tai lieu, document13 of 66. 9 nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Vũ Anh Tuấn "Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam'', Tạp chí sinh hoạt lý luận, (5), năm 2011.

Lê Minh Quân ''Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân'', Tạp chí Cộng sản, (10), năm 2013; tác giả đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trần Ngọc Đường ''Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam'', Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (16), năm 2011; Phạm Hữu Nghị "Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (9), năm 2011… Các công trình nói trên đã cố gắng giải quyết những vấn đề có tính lý luận chung của kiểm soát quyền lực nhà nước, như: Tính phổ biến, sự cần thiết, mục đích, cơ chế thực hiện… Các công trình đã phân tích những quy định của pháp luật về sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các nhánh quyền lực; thử xác định các khái niệm, mục đích, chủ thể, phạm vi của kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhiều tác giả đã khái quát có hai hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Đó là kiểm soát từ bên trong (giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với nhau) và từ bên ngoài từ các đảng chính trị, các tổ chức công dân và của nhân dân.

Sự cần thiết phải kết hợp cả hai hình thức này trong một thể chế chính trị cũng được đặt ra, Trần Ngọc Đường, 2011, Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh đề cập đến. Phân biệt sự giám sát bên trong hệ thống quyền lực nhà nước giữa các nhánh quyền lực với giám sát bên ngoài đó là sự giám sát có tính chất quyền lực nhà nước và không có tính chất quyền lực nhà nước. Nhiều tác giả đã đề cập đến hoạt động chất vấn, nhìn thấy sự liên hệ, sự cần thiết giữa việc thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội với hoạt động chất vấn, như là một hình thức giám sát đặc thù. luan van, khoa luan 13 of 66.

tai lieu, document14 of 66. 10 Để phân biệt giữa các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, các tác giả Vũ Minh Đoan, Vũ Thu Hạnh (2014) đã phân tích các khái niệm thanh tra, kiểm, tra, giám sát, kiểm sát và đã đưa ra khái niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả còn tiếp tục đi sâu hơn, phân tích khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền hành pháp và cơ chế kiểm soát quyền tư pháp và những yếu tố đảm bảo cho cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trên thực tế. Liên quan đến cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Trần Ngọc Đường trong công trình: Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Vũ Anh Tuấn "Hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước", Tạp chí lý luận chính trị, (5), năm 2012, đã đi sâu phân tích sự mất cân đối trong nhận thức và tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta.

Đó là coi trọng tính thống nhất, tập trung mà coi nhẹ tính kiểm soát, chế ước giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các tác giả đặc biết chú ý đến cơ chế kiểm soát từ bên ngoài (của Đảng, của các tổ chức chính trị-xã hội, của các tổ chức xã hội và của nhân dân) đối với quyền lực nhà nước và sự phối hợp với cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước. Các giải pháp mà Trần Ngọc Đường đề xuất khá toàn diện bao gồm đề nghị các phương án sửa đổi một số quy định trong Hiến pháp hiện hành cho đến những quy định pháp luật cụ thể. Về giám sát tối cao của Quốc hội, tuy cuốn sách của Trần Ngọc Đường không bàn đến vấn đề chất vấn nhưng cho rằng chức năng giám sát tối cao của Quốc hội nên tập trung vào kiểm soát hoạt động của hành pháp, không nên kiểm soát tư pháp và các văn bản luật để đảm bảo thực quyền.

Để làm rõ hơn vấn đề và các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu so sánh các nước trên thế giới, thậm chí luan van, khoa luan 14 of 66. tai lieu, document15 of 66. 11 so sánh các tổ chức nhà nước của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Theo hướng này có: Nguyễn Quang Anh "Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam", Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (286), tháng 3 năm 2015.

Sự khác biệt của kiểm soát quyền lực nhà nước của một số nước pháp quyền tư sản và Việt Nam là ở cơ chế kiềm chế đối trọng giữa các cơ quan quyền lực, đề cao vai trò các đảng phái chính trị đối lập, thông qua các tổ chức xã hội dân sự, các phương tiện truyền thông đại chúng, bầu cử tự do và giới hạn nhiệm kỳ. Bàn về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước của nước Nga, và các nước Đông Âu qua cả hai giai đoạn, trước trước và sau 1991, nghiên cứu vấn đề tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Thái Vĩnh Thắng (2011) cho rằng, sự thiếu vắng cơ chế kiểm soát quyền lực trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là một trong những nguyên nhân của tình trạng mất dân chủ, mà hệ luỵ của nó là dẫn đến sự suy yếu nhà nước và sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa. Từ những kinh nghiệm các nước phương Tây, bài học các nước Đông Âu, các tác giả đã hàm ý rút ra những những giá trị cần tham khảo, vận dụng ở Việt Nam. Sau khi phân tích tính so sánh việc tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, hầu hết các công trình trên đều thống nhất cho rằng, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, thiếu sót, bất cập và nguyên nhân của tình trạng này.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp về tổ chức và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Đáng chú ý là cuốn Kiểm soát quyền lực nhà nước, một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 2008 của Trịnh Thị Xuyến. Đây là cuốn sách được xuất bản từ luận án tiến sĩ (2007) lần đầu tiên ở Việt Nam, nghiên cứu vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước được luan van, khoa luan 15 of 66. tai lieu, document16 of 66.

12 tiến hành một cách công khai, tương đối toàn diện và đầy đủ. Tác giả cuốn sách cho rằng, kiểm soát quyền lực nhà nước là tất yếu khách quan. Tác giả đã làm rõ các khái niệm: kiểm soát quyền lực nhà nước, nội dung, mục đích, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả đã khảo sát thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước trên thế giới, đặc biệt với hai mô hình hệ thống chính trị lựa chọn, là mô hình các nước có hệ thống hai đảng nổi trội và mô hình hệ thống một đảng nổi trội, từ đó rút ra những giá trị tham chiếu cho Việt Nam.

Cuốn sách đã phân tích thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, với các chủ thể là nhân dân và Đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ