lời mở đầu tha thiết: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam’’ [31, tr.47-48] Luan van 10 Ở tuổi hai mươi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Động lực khiến Người ra đi – như Người đã nói với nhà văn Mỹ Anna Luxtơrông: “Nhân dân Việt Nam trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi sự thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ.
Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [31]. Vào thời điểm này Hồ Chí Minh biết rất rõ có ba con đường và giải pháp của các nhà yêu nước để dành độc lập cho dân tộc. Đó là các nhà yêu nước: Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Mặc dù rất kính trọng tinh thần nhiệt huyết của các cụ nhưng Hồ Chí Minh đã không đi theo con đường các cụ đã đi, câu hỏi mà Hồ Chí Minh đặt ra là: Tại sao các cụ thất bại? Tại sao các nước phương Tây giàu mạnh? Cái gì ẩn chứa đằng sau câu châm ngôn ‘‘tự do - bình đẳng - bác ái’’? Đó chính là lý do khiến Người ra đi tìm đường khác, và Người chọn hướng sang Pháp và các nước phương Tây.
Đi để tìm con đường cứu nước, đi để tìm giải pháp giải phóng cho quê hương, giành độc lập cho dân tộc. “Đấy là sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng. Đấy là sự từ bỏ cái lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến phù hợp với thời đại mới. Đấy chính là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi”.11] Gia nhập đội ngũ những người lao động Pháp và nhiều nước khác, gần mười năm lao động chân tay, vừa đi làm, vừa học, nhận thức của Hồ Chí Minh về những người lao động – đặc biệt là nhân dân lao động các nước thuộc địa càng thêm phong phú.
Từ lòng yêu nước, ý chí độc lập cho dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng, những người lao động bị áp bức ở các nước thuộc địa đều có nguyện vọng chung là độc lập cho dân tộc mình, tự do cho nhân dân; họ đều rất căm thù chủ nghĩa thực dân và coi chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa. Luan van 11 Hòa nhập với cuộc sống của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh có điều kiện giao tiếp với nhiều tri thức tiến bộ Pháp và một số nước khác. Điều kiện đó đã giúp Người nâng cao nhận thức của mình. Nếu như trước đó ở Người mới chỉ là ý thức dân tộc, yêu nước thì nhờ những điều kiện đó mà nhận thức của Người về vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế đã nảy sinh và dần dần phát triển.
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận họp nhau để phân chia lại thị trường thế giới. Họ hứa hẹn việc trao trả độc lập chủ quyền cho các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí Minh đã gửi “Yêu sách của người dân An Nam” đến hội nghị Vecxây đòi quyền tự quyết dân tộc nhưng không được đáp ứng. Hồ Chí Minh hiểu ra rằng, những lời hứa hẹn về quyền tự quyết “chỉ là một trò bịp”, và Người khẳng định: Các dân tộc phải tự mình tiến hành giải phóng, không thể trông chờ vào việc rủ lòng thương của chủ nghĩa đế quốc.
Hồ Chí Minh đã tham gia Đảng xã hội Pháp và hoạt động rất hăng hái trong tổ chức này. Người đã viết báo đăng trên các tờ báo Pháp, viết cuốn sách Những người bị áp bức tố cáo những tội ác và sự thối nát của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa. Người tham gia tích cực vào các hoạt động của ủy ban vận động Đảng Xã hội Pháp, gia nhập Quốc tế III; Người hoan nghênh Cách mạng tháng Mười và tham gia quyên góp ủng hộ công nhân Nga chống nạn đói và sự can thiệp của các nước đồng minh đế quốc. Trong những hoạt động ấy Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý việc tìm hiểu về những người Bônsêvích, về cách mạng Tháng Mười Nga và đã trình bày đề tài nghiên cứu của chủ nghĩa Bônsêvích ở Châu Á, diễn thuyết trước thanh niên quận 13 Pari về chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh đã từng vui mừng phấn khởi “đến phát khóc lên” khi đọc Luan van 12 Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc đia của Lênin. Ngồi một mình trong phòng, Người nói to lên như nói trước đông đảo quần chúng bị áp bức: “Hỡi đồng bào bị dọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” [31, tr 91]. Ngay sau đó, từ Pari Người viết thư gửi Quốc tế cộng sản và nói rõ luận cương của Lênin đã ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan của mình. Người khẳng định dứt khoát tin theo Lênin và Quốc tế cộng sản.
Điều gì khiến Hồ Chí Minh khi nghiên cứu luận cương của Lênin đã đi đến khẳng định rõ ràng và chính xác thế giới quan và lập trường của mình? Đặc biệt về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc? Trước hết, phải khẳng định là do nội dung tư tưởng chiến lược về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mà Lênin đã nêu ra. Đó là quyền được độc lập của các dân tộc thuộc địa; là quyền tự quyết dân tộc nói chung phải bao gồm cả quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Luận cương của Lênin đã chỉ rõ, những người cách mạng ở các nước thuộc địa phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân ở các nước chính quốc, không để những tư tưởng quốc gia dân tộc hẹp hòi mê hoặc; còn những người cách mạng ở chính quốc phải tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ở các nước thuộc địa; những nước cách mạng vô sản thành công phải giúp đỡ nhân dân các nước thuộc địa làm cách mạng và phải coi đây là nhiệm vụ chung của cách mạng vô sản quốc tế. Với những nội dung cơ bản từ Luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm được lời giải đáp ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chính yếu về vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và những biện pháp cơ bản nhằm đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
Thông thường, từ sự giác ngộ ý thức giai cấp công nhân mới đi tới giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng ở Hồ Chí Minh thì điểm xuất phát lại từ ý Luan van 13 thức về việc giải phóng dân tộc mình. Ngay cả khi đã đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn coi vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề cấp bách nhất. Ngay sau lúc bỏ phiếu tán thành gia nhập quốc tế cộng sản, được nữ đồng chí Rôdơ, người ghi biên bản Đại hội 18 Đảng xã hội Pháp hỏi: “Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III?”. Người trả lời: “Rất giản đơn.
Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều, Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa…tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [31, tr. Như vậy, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin qua cửa ngõ của chủ nghĩa yêu nước chân chính, cửa ngõ đấu tranh giai cấp. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước chân chính đã hòa quyện cả tinh thần dân tộc với tinh thần giai cấp; cả tinh thần đoàn kết giai cấp vô sản quốc tế với các dân tộc bị áp bức. Khẩu hiệu của Lênin: “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” đã thể hiện một cách nhuần nhuyễn ở Người.
Quá trình nhận thức về dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, về con đường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản đã được từng bước thể hiện và ngày càng hoàn thiện, từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh đến Chính cương vắn tắt, điều lệ vắn tắt…đã thể hiện đầy đủ điều đó. Người xác định, cách mạng giải phóng dân tộc nhưng phải theo con đường cách mạng vô sản, cách mạng Tháng Mười Nga. Như vậy, từ tinh thần yêu nước đã hình thành ở Hồ Chí Minh ý thức giai cấp của giai cấp vô sản. Từ sự đồng cảm của người dân nô lệ bị chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tình cảm quốc tế vô sản.
Đó cũng là bước chuyển biến căn bản trong tình cảm và ý thức của Hồ Chí Minh. Đó cũng là nền tảng cực kỳ quan trọng để người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của thời đại. Luan van 14 Có thể nói: “Sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra cũng giống như sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam trong sự tác động, thúc đẩy lẫn nhau giữa cái dân tộc và cái giai cấp” [17, tr. Ý thức giác ngộ về giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Hồ Chí Minh đến với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Đến lượt mình, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trở thành kim chỉ nam, thành nền tảng tinh thần cho công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam, là cơ sở khoa học cho sự phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin và qua thực tiễn hoạt động cách mạng, quan điểm của Hồ Chí minh về vấn đề dân tộc được hình thành. Nhưng vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập ở đây không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa. Bởi vì xuất phát từ thực tiễn khi chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực hiện sự áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa đối với các nước bị xâm chiếm, thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa.