mở đầu kỷ nguyên triều Lý và nước Đại Việt. Thông qua những cuộc chiến tranh giữ nước, ông cha ta đã rút ra được quy luật cơ bản là phải dựa vào dân và đoàn kết toàn dân – vấn đề trung tâm trong suy nghĩ của thời đại, đặc biệt là trong suy nghĩ của những bộ óc tham gia lãnh đạo các cuộc chiến tranh giữ nước như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn. Về sau, đoàn kết toàn dân là một trong những bài học lớn đưa đến thành công của kháng chiến chống Pháp - Nhật - Mỹ ở nước ta. Bước sang thế kỷ XI, sự tồn tại của nhà Lý đã để lại nhiều di sản cho đất nước, là thời kỳ mà tư tưởng chính trị và xã hội ở nước ta có những bước tiến quan trọng, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu như Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và tư tưởng chính trị, đường lối đánh giặc giữ nước của Trần Quốc Tuấn.
Thiên đô chiếu là văn kiện lịch sử thể hiện tư tưởng biện chứng và độc lập, tự chủ, sáng tạo của Lý Công Uẩn - người có quyết định lịch sử thể hiện tầm nhìn ngàn năm là dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Qua đó, Lý Công Uẩn đã thể hiện một sự nhận thức chính trị sâu sắc là “gắn liền việc dời đô với Luan van 16 việc dựng nước. Mà dựng nước cũng chính là nhằm củng cố và duy trì nền độc lập mà dân tộc ta vừa giành được trên nửa thế kỷ” [48, tr. Với Thiên đô chiếu, Lý Công Uẩn đã thể hiện nhãn quan chính trị sâu rộng “đóng đô ở nơi trung tâm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu.
cho nên vận nước được lâu dài, phong tục phồn thịnh” [55, tr. Đoạn văn này phán ánh được nguyện vọng của nhà vua, vai trò của người thủ lĩnh cũng như nguyện vọng của cả dân tộc, đó là xây dựng quốc gia độc lập giàu mạnh, một vương triều bền vững, một nhà nước phong kiến tập quyền mạnh mẽ. Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, vấn đề độc lập và chủ quyền của đất nước tiếp tục được phát huy. Cuộc đấu tranh chống Tống, bảo vệ bờ cõi đất nước dưới sự lãnh đạo của Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) đã kết thúc thắng lợi.
Chính trên chiến trường Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã cho đọc vang bài thơ “Nam quốc sơn hà”: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [55, tr. 321] Bài thơ là một lời tuyên bố đanh thép, một bản tuyên ngôn trịnh trọng về nền độc lập và chủ quyền của nước Đại Việt, là một nước độc lập có lãnh thổ và chủ quyền bất khả xâm phạm. Lý Thường Kiệt khẳng định danh hiệu “Nam đế” chính là khẳng định vị trí ngang hàng, bình đẳng với phương Bắc. Nam quốc sơn hà đã có sức cổ vũ to lớn quân và dân ta, đưa đến chiến thắng quân Tống xâm lược.
Đây là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc, khẳng định chủ quyền của nước Đại Việt trước thế lực ngoại xâm. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện nhận thức của nhân dân về nền độc lập, chủ quyền Luan van 17 và lãnh thổ. Nhận thức đó chứng tỏ bước trưởng thành về mặt ý thức dân tộc của nhân dân ta từ thế kỷ XI. Nó khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước mà nhân dân đã giành được từ thời Ngô Quyền và sau đó được củng cố trong hơn một thế kỷ.
Đối với Trần Quốc Tuấn, tinh thần yêu nước, ý thức chủ quyền dân tộc được khái quát thành tư tưởng chiến tranh giữ nước. Từ thực tiễn lịch sử dân tộc, ông đã tổng kết thành những bài học về chiến tranh giữ nước theo quan điểm duy vật và biện chứng, đã phản ánh chính xác quy luật chiến tranh giữ nước của một quốc gia nhỏ bé chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp bội. Tư tưởng dựa vào dân để đánh giặc giữ nước là một trong những tư tưởng nổi bật, mang tính đặc thù của Trần Quốc Tuấn. Vì vậy mà ông coi việc “khoan thư sức dân” là “kế sâu gốc bền rễ” và là “thượng sách để giữ nước”.
Tư tưởng này không chỉ phản ánh những quy luật cơ bản của chiến tranh giữ nước ở thời Trần mà còn có ý nghĩa phổ biến cho mọi cuộc chiến tranh giữ nước về sau. Từ năm 1400 (Nhà Hồ) đến năm 1504 (Lê Túc Tông), là thế kỷ anh hùng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước. Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo, đại thắng quân Minh tháng 12/1427, là thắng lợi của ý chí dân tộc và tư tưởng nhân dân phát triển đến đỉnh cao. Ý thức về một quốc gia độc lập rất rõ ràng thông qua các tiêu chí: lãnh thổ, văn hiến, phong hóa (phong tục tập quán), lịch sử dân tộc.
Điều này được trình bày cụ thể trong bản Tuyên ngôn Độc lập thứ hai - Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác Luan van 18 Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt thời nào cũng có” [50, tr. 63] Đối với Nguyễn Trãi, chủ quyền quốc gia được cấu thành bởi bốn yếu tố: lãnh thổ (sông núi, bờ cõi), văn hóa (văn hiến), phong tục và lịch sử. Nếu như ở Châu Âu, sự hình thành dân tộc gắn liền với các yếu tố: tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và cấu tạo tâm lý thể hiện trong nền văn hóa dân tộc thì ở Việt Nam, do thường xuyên chống chọi với các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, nguy cơ bị mất đất, mất giống nòi mà các yếu tố lãnh thổ, văn hóa, phong tục và lịch sử chính là sự phản ánh những điều kiện hiện thực làm nên một quốc gia, dân tộc trong lịch sử. Từ bốn yếu tố trên, Bình Ngô đại cáo đã khẳng định Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, ngang hàng với phương Bắc về mọi mặt và phương Bắc cần phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của nước Nam.
Tác phẩm còn thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Đây là một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời ông. Không những thế, Bình Ngô đại cáo còn nêu lên tư tưởng: để bảo đảm chủ quyền của mình, người Việt Nam đã không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng chiến đấu và cũng vì không tôn trọng chủ quyền đó mà quân Minh phải chuốc lấy thất bại nhục nhã. Do đó, Bình Ngô đại cáo thực sự là một bản Tuyên ngôn Độc lập hào hùng của dân tộc ta ở thế kỷ XV.
Trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, xét cả về nhận thức và tư tưởng thì đó là bản Tuyên ngôn Độc lập có giá trị nhất. Thế kỷ XV, Lê Thánh Tông tiếp tục khẳng định chủ quyền: “Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vất bỏ. Ai dám đem một thước núi, một tấc sông của Vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”. Một điều dễ nhận thấy rằng, ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia đã được nung nấu Luan van 19 hầu như trong mọi thế hệ, trong mọi giai cấp, tầng lớp xã hội.
Hễ là người nước Nam thì đều mang trong mình ý chí, tinh thần tự tôn dân tộc hết sức mãnh liệt. Thật đáng tự hào! Cùng với tiến trình lịch sử, ý thức về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia dần được phát triển thành hệ thống lý luận thông qua vai trò của các nhà tư tưởng yêu nước. Nếu như thời kỳ Bắc thuộc ý thức dân tộc thể hiện bằng lòng yêu nước, ý chí đánh giặc giữ nước thì đến thời kỳ này, ý thức ấy càng hoàn chỉnh, phát triển và được khái quát thành hệ thống tư tưởng, lý luận với các tác phẩm văn học, cụ thể là hai bản Tuyên ngôn độc lập hào hùng của Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi. Như vậy, chủ trương độc lập và ngang hàng với phương Bắc đã bước đầu thành công.
Đó chính là kết quả của việc đấu tranh giữ vững nền độc lập, tự chủ và nhu cầu ngang hàng với phương Bắc, đồng thời thể hiện sự vận dụng mô hình xã hội phương Bắc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ. Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước cũng như duy trì nền độc lập, tự chủ là một quá trình đấu tranh lâu dài của người Việt, bắt nguồn từ thời kỳ Bắc thuộc và cần tiếp tục duy trì trong những giai đoạn sau. Thời kỳ khủng hoảng và chia cắt, phân tranh của chế độ phong kiến (Thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII) Sự tồn tại và phát triển của triều đại nhà Lê sơ (1428 – 1527) với khởi nghĩa Lam Sơn đánh tan quân Minh một lần nữa minh chứng cho ý chí giữ nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia của dân tộc ta. Năm 1527, sau cái chết của Lê Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung tự xưng vua, lên ngôi và đổi niên hiệu là Minh Đức, mở đầu triều đại mới – triều Mạc.
Từ năm 1527 – 1600 là thời kỳ diễn ra sự tranh giành quyền lực giữa Bắc triều và Nam triều. Tiếp đến là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1601 Luan van 20 – 1801). Đây thực sự là thời kỳ khủng hoảng và chia cắt của chế độ phong kiến Việt Nam. Cùng với bối cảnh đó, các cuộc nổi dậy của nông dân đã liên tiếp nổ ra và lan rộng, làm rung chuyển chính quyền phong kiến.
Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn phát triển hết sức nhanh chóng. Hịch đánh quân Thanh của Nguyễn Huệ nêu lên: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”. Lời lẽ sắc mạnh, ý tứ rõ ràng, thể hiện chủ quyền quốc gia khi đề cập đến hai yếu tố: phong tục và lịch sử.
Mặc dù không toàn diện như Đại cáo Bình Ngô, nhưng bài Hịch cũng thể hiện ý chí và quyết tâm đánh giặc, bảo vệ bờ cõi đất nước của Nguyễn Huệ. Đầu năm 1789, sau khi quét sạch gần 30 vạn quân Thanh và bè lũ bán nước ra khỏi bờ cõi, vương triều Tây Sơn xuất hiện.