Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Chương 2: Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn dưới ánh sang tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM Đại đoàn kết các dân tộc thiểu số là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam. Xuất phát từ đặc điểm đất nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em sống xen kẽ với nhau.
Trong đó dân tộc thiểu số thường cư trú ở những vùng trọng yếu của Tổ quốc như biên giới và hải đảo. Bởi vậy, vấn đề đại đoàn kết dân tộc nói chung và đại đoàn kết các dân tộc thiểu số nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước mà còn là ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Khái niệm và vai trò của đại đoàn kết các dân tộc thiểu số trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 1. Khái niệm đoàn kết và đại đoàn kết các dân tộc thiểu số Đoàn kết là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại và đã được sử dụng một cách rộng rãi.
Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử, quan niệm về đoàn kết cũng có sự khác nhau. Đến giữa thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, đã nêu khẩu hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại”. Kế thừa và phát triển tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng quốc tế của C.Mác và Ph.Ăngghen phù hợp với thời kỳ lịch sử mới, V.Lênin cũng kêu gọi:“Vô sản của các nước và dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại”. Song, cũng như C.Mác và Ph.Lênin vẫn chưa nêu ra một định nghĩa hoàn chỉnh về đoàn kết.
Qua nghiên cứu tác phẩm của các ông để lại, có thể thấy, đoàn kết theo quan điểm của các ông mang hàm ý là sự “hiệp đồng”,“liên minh” “gần gũi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau”… có nguyên tắc giữa GCVS các nước và các dân tộc bị áp bức. Đòi hỏi khách quan của các cuộc đấu tranh giai cấp của GCVS và các dân tộc bị áp bức chống lại CNTB, chủ nghĩa đế quốc. Đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, đoàn kết ngay từ đầu được hiểu là sự “cố kết”,“gắn bó” cộng đồng dân tộc trước nhu cầu của cuộc chiến chống thiên tai, ngoại xâm để tồn tại và phát triển. “Đoàn kết là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau: Đại đoàn kết với nhau, đoàn kết dân tộc” và “Đại đoàn kết: Đoàn kết rộng rãi, chính sách đoàn kết giữa các dân tộc” [3, tr.
Sự “cố kết”,“gắn bó” đã thấm sâu vào các thế hệ người Việt và trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc. Kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc, nhân loại, trên nền tảng tư tưởng liên minh, đoàn kết chiến đấu của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đoàn kết. Theo con số thống kê, Hồ Chí Minh đã sử dụng cụm từ “đoàn kết”,“đại đoàn kết” (trong Hồ Chí Minh, Toàn tập, 12 tập, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1995 và 1996) là 1. Trong đó: “đoàn kết” là 1.654 tài liệu,“đại đoàn kết” là 53 tài liệu và Người cũng đã nêu khái niệm về đại đoàn kết.
Đại đoàn kết là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân tức là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là cái gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác [25, tr.
Tiếp nối luận điểm trên, Người còn chỉ rõ: Đoàn kết rộng rãi và lâu dài: Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố.
Nền có vững nhà mới chắc, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính sách đoàn kết cần phải chống lại hai khuynh hướng sai lầm cô 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Phải lấy công tác mà củng cố đoàn kết. Phải lấy đoàn kết để đẩy mạnh công tác [25, tr.
Từ những quan niệm nêu trên của Hồ Chí Minh và qua nghiên cứu những bài nói, bài viết, chủ trương về đoàn kết, đại đoàn kết của Người, có thể khái quát quan niệm đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, là: một hệ thống những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp giáo dục, tổ chức hành động của các lực lượng cách mạng nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, và CNXH. Nói một cách khác, đó là chiến lược xây dựng, củng cố, mở rộng, tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xã hội, con người [33, tr. Đoàn kết các DTTS là một bộ phận không tách rời của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT, Hồ Chí Minh tuy không nêu ra khái niệm cụ thể nào về đoàn kết các dân tộc thiểu số, nhưng qua nghiên cứu những di sản của Người để lại (trong Hồ Chí Minh, Toàn tập, 12 tập, Nxb.CTQGHN, 1995 và 1996), cho thấy: từ năm 1941 đến năm 1969, trong gần 30 năm, có đến 64 tài liệu của Người đề cập đến mối quan hệ giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; trong đó, để gọi các dân tộc trong nước ta, Người dùng các thuật ngữ: “dân tộc đa số”, “DTTS”, “đồng bào Thượng du”, “anh em thiểu số”, “anh, chị em các dân tộc” , “đồng bào các dân tộc”…, không có một tài liệu nào Người dùng thuật ngữ: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc. Trong 64 tài liệu đó, theo thống kê (chưa đầy đủ), có hơn 30 lần Hồ Chí Minh dùng cụm từ “đoàn kết các dân tộc”, mà nội dung của nó bao gồm: đoàn kết dân tộc Kinh với DTTS, đoàn kết các DTTS tại chỗ với nhau, đoàn kết các DTTS trong phạm vi cả nước.
Chẳng hạn như khi phát biểu tại Hội nghị các DTTS Việt Nam ngày 3 tháng 12 năm 1945, Người nói: “Nhiệm vụ chính của các DTTS hiện nay phải thực hiện là: đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng” [23, tr. Thư gửi Hội nghị các DTTS miền Nam tại Plâycu, ngày 19 tháng 4 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1946, Hồ Chí Minh viết: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Êđê, Xêđăng hay Bana và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt [23, tr. Trên cơ sở quan niệm về ĐĐKDT của Hồ Chí Minh, qua nghiên cứu các bài nói, bài viết, chủ trương của Người về đoàn kết các dân tộc, có thể khái quát quan niệm của Hồ Chí Minh về đoàn kết các DTTS, là: hệ thống những quan điểm cách mạng sâu sắc và toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng… nhằm mục đích giải phóng dân tộc, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, phát huy tiềm năng to lớn của miền núi và vùng đồng bào các DTTS, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi để cùng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, văn minh và giàu mạnh.
Vai trò của đại đoàn kết các dân tộc thiểu số trong tư tưởng Hồ Chí Minh Xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận cũng như trong các hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh là tư tưởng đoàn kết nhằm tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, quốc tế vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Từ truyền thống đoàn kết của dân tộc, nhân loại, với tầm cao trí tuệ của bản thân và chủ nghĩa nhân văn cộng sản, Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh của cả dân tộc, từ lực lượng Công - Nông - Trí thức của cách mạng, đến các tầng lớp trung gian, các dân tộc, để tạo thành lực lượng tổng hợp trong cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và xây dựng CNXH. Chính vì thế đoàn kết có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Vai trò đó, được Người thể hiện ở các luận điểm sau: Thứ nhất, đoàn kết là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng cách mạng từng nước trong cuộc đấu tranh chống kẻ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng về đoàn kết của chủ nghĩa Mác-Lênin, ngay từ năm 1924, trong bài Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, trên cơ sở phân tích cơ cấu giai cấp - xã hội ở Đông Dương, truyền thống đoàn kết của người Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra luận điểm: “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”. Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, sự phân hoá giai cấp diễn ra không sâu sắc như ở phương Tây, bởi vì, “nếu nông dân chẳng có gì, thì địa chủ không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột họ là máy móc” [20, tr. Bên cạnh đó, dưới sự thống trị của thực dân, mâu thuẫn bao trùm và chi phối các mâu thuẫn khác là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.
Do đó,“chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.