lời mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập 1945, trong Hiến pháp đầu tiên 1946… Đúng là Hồ Chí Minh đã sớm bị hấp dẫn bởi lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái của Đại cách mạng Pháp và muốn đi sang Pháp để tìm hiểu xem những gì ẩn đằng sau ba từ ấy. Và Người đã nhận ra rằng nền Cộng hoà Pháp chủ Luan van 15 yếu được xây dựng trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là về quyền tự do, bình đẳng của cá nhân theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp; còn Hồ Chí Minh xuất phát từ vị trí người dân thuộc địa phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân. Với Hồ Chí Minh, Tự do trước hết vẫn là tự do của toàn dân tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân; Bình đẳng cũng được Hồ Chí Minh nâng lên thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc; còn Bác ái – một khái niệm quá rộng, như lòng bác ái của Chúa đòi hỏi phải “yêu cả kẻ thù của mình”, là điều khó chấp nhận đối với các dân tộc bị áp bức! Hồ Chí Minh hiểu khái niệm này theo đúng nghĩa của nó là tình hữu ái, như tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”, nên Người thường quen gọi những người lao động, các dân tộc bị áp bức là anh em. Tóm lại, Hồ Chí Minh nhận thức Tự do, Bình đẳng, Bác ái qua lăng kính của người dân bị áp bức châu Á chứ không theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp, nên chỉ coi đó là những yếu tố cần chứ chưa đủ.
Cái giá trị lớn nhất mà Hồ Chí Minh theo đuổi suốt đời là: Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, đó là tất cả những gì mà Người hiểu và Người muốn. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa. Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M.
Môngmútxô… mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển. Luan van 16 Hồ Chí Minh còn kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo. Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo.
Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy. Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: Dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người, đặc biệt là trẻ em; chiếm ruộng đất canh tác… Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa.
Như vậy, cũng như đối với những giá trị của văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị tư tưởng văn hóa phương Tây với tinh thần độc lập tự chủ và phê phán. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa - Quan điểm của C. Ăng - ghen, trong một số tác phẩm của mình đã không trực tiếp bàn đến văn hóa như một lĩnh vực độc lập. Nhưng trong khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý thức xã hội, Mác đã gián tiếp thể hiện quan điểm về văn hóa.
Theo đó, văn hóa Luan van 17 được xem là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa thuộc về ý thức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Lao động cùng với ngôn ngữ và tư duy là cơ sở hình thành văn hóa. Trong tác phẩm “Luận cương về Feuerbach”, C. Mác đã chỉ ra tính siêu hình máy móc và phiến diện của chủ nghĩa duy vật cũ trong việc xem xét mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể.
Đó là mặt hoạt động của con người không được nhìn nhận đúng đắn. Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm lại đề cập và phát triển mặt hoạt động của con người trong quan hệ với khách thể nhưng theo hình thức duy tâm, thần bí. Từ sự phê phán đó, C. Ăng ghen đã chọn cho mình điểm xuất phát để nghiên cứu xã hội là hoạt động sống của con người.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, hai ông còn khẳng định rằng: Người ta phải có kỹ năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà người ta phải thực hiện hằng ngày, hằng giờ để nhằm duy trì đời sống của con người [37, tr.
Từ sự phân tích mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, hoạt động và đối tượng, C. Mác đã có cách nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chỉ ra rằng: Con người là “một thực thể song trùng” giữa “cái tự nhiên” và “cái xã hội”. Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, nhưng yếu tố làm nên bản chất của con người chính là sự tồn tại người với tư cách là “thực thể xã hội”. Trong “Luận cương về Feuerbach”, Mác viết: “.
bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [37, tr. Mác xem xét đời sống xã hội như một chỉnh thể Luan van 18 hữu cơ bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất con người, trong đó sản xuất con người giữ vị trí trung tâm. Nếu hiểu văn hóa ở góc độ sản xuất con người thì logic phát triển văn hóa là quá trình biểu thị mức độ phát triển tự do và sáng tạo của con người trong lịch sử.
Trong quá trình hoạt động, con người đã khách thể hóa lực lượng bản chất của mình vào giới tự nhiên chưa được khai phá, tạo nên “thiên nhiên thứ hai” - cái mà con người thường gọi là văn hóa. Nhờ sự đối tượng hóa và giải đối tượng hóa, các hình thức và phương thức hoạt động của con người không chỉ tồn tại ở thân thể hữu cơ mà còn ở thân thể văn hóa, thân thể vô cơ của của mình. - Quan điểm của Lênin V.Lênin đã vận dụng quan điểm biện chứng khi xem xét đời sống xã hội để áp dụng vào thực tiễn, cải tạo xã hội và phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa, đó là thời kỳ sản xuất ra con người tự do. Bên cạnh việc phê phán yếu tố tiêu cực của văn hóa tư sản, ông cũng nhìn nhận việc kế thừa văn hóa tư sản phương Tây là một trong những yêu cầu cấp thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đã xem “ý thức xã hội chính là toàn bộ văn hóa tinh thần của nhân loại như một chỉnh thể được phát triển trong lịch sử. Văn hóa tinh thần được tạo thành từ sự tác động qua lại biện chứng của vô vàn các ý thức cá nhân khác nhau" [24, tr. Như vậy, quan điểm về văn hóa của Lênin bao hàm khá rộng kể cả lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần của con người gắn với quá trình phát triển. Với ý nghĩa đó, văn hóa là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người, đồng thời là kết quả sáng tạo của tất cả các hoạt động đó.
Những quan điểm trên đây của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan và phương pháp luận khoa học, Luan van 19 đúng đắn để Người xây dựng hệ thống tư tưởng của mình nói chung và tư tưởng về văn hóa nói riêng. Người khẳng định rằng, chính ánh sáng văn hoá của chủ nghĩa Mác - Lênin là một động lực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đến lượt mình, Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng văn hoá của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức khác trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh là người cộng sản có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người không tiếp thu một cách giáo điều, mà lựa chọn những cái cần thiết, phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc và nhu cầu thực tiễn của đất nước.
Đó là sự tiếp thu có cải biến và đổi mới. Tóm lại, trên cơ sở kế thừa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã xây dựng những quan điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Chính vì thế, Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa trí tuệ cao nhất của thời đại với thực tiễn lớn nhất của dân tộc.