Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NGUYỄN AN NINH VỀ CHÍNH TRỊ 1. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGUYỄN AN NINH VỀ CHÍNH TRỊ 1. Bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Nguyễn An Ninh về chính trị Lịch sử thế giới chứng kiến sự chuyển mình của các nước phương Tây, do sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật lên đã đạt được những thành quả nhất định về kinh tế, xã hội từ đó có tác động to lớn tới mọi mặt xã hội. Về kinh tế, Xuất phát từ việc thay đổi nhanh chóng phương thức sản xuất trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX dẫn đến các nhu cầu về thị trường, nguyên liệu, tài nguyên và nguồn cung lao động… dẫn tới việc các nước phương Tây tìm kiếm các vùng đất mới, việc mở rộng thuộc địa.
Việt Nam thời điểm bấy giờ được coi là một nước giàu tài nguyên và cần được “khai hóa” đó là tiền đề để Pháp xâm lược Việt Nam. Khi điều kiện kinh tế xã hội bị thay đổi dẫn tới việc hình thành các luồng tư tưởng mới. Khi phân tích tình hình xã hội và bản chất của chủ nghĩa tư bản, Nguyễn An Ninh đã chỉ ra những khẩu hiệu “khai hóa”, “văn minh” mà người Pháp rêu rao khi xâm lược Việt Nam chỉ là những câu từ sáo rỗng, giả tạo, ông viết: “Tôi hiểu rằng, giờ đây, nước Pháp chỉ quan tâm đến các thuộc địa nhằm rút rỉa quyền lợi vật chất trước mắt.” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Trong chính quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự phân hóa xã hội, buộc các dân tộc, con người phải lệ thuộc vào tầng lớp thống trị, chính trong lúc này mâu thuẫn giai cấp diễn ra một cách gay gắt.
Nhận định về vấn đề này, Nguyễn An Ninh viết: 13 “Tôi hiểu rằng ở châu Âu giờ đây, đã đi đến chỗ mà vận mệnh loài người phải bị trói buộc vào guồng máy kinh tế mà con người không có khả năng tác động vào, mà rằng người đại diện cho nhân dân Pháp chỉ còn cách phó mặc số phận của Đông Dương cho định mệnh và cho một lũ người lang sói.” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Về chính trị, trong quá trình phát triển của mình, giai cấp tư sản đã củng cố quyền lực và phát triển nền dân chủ tư sản, từng bước tạo nền tảng cho một hình thức nhà nước mới ra đời đó là nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo. Chuyển đổi hình thức nhà nước từ quân chủ sang dân chủ, từ thần quyền sang pháp quyền, từng bước đưa con người ta thoát ra khỏi tôn giáo đi đến khoa học thực chứng. Chính yếu tố này đã tác động đến các quốc gia phong kiến trong đó có Việt Nam.
Nhà nước tư sản ra đời là một bước tiến của lịch sử loài người, nhưng nó cũng bộc lộ không ít những tiêu cực, như các nước tư bản dần biến đổi thành các chủ nghĩa đế quốc, các quốc gia này liên kết với nhau đi xâm lược, nô dịch các nước, dân tộc khác với mục đích mở rộng thuộc địa, thị trường và khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho chính quốc. Nguyễn An Ninh viết, “Chính vì quyền con người mà hàng triệu con người đã bị giết hại trong Đại thế chiến. Cái quyền mà họ đã hy sinh vì nó, cùng với những xác chết thảm thương của họ, nay bị vùi sâu vào lãng quên” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Chính cuộc đại thế chiến thứ nhất này đã làm cho tình hình chính trị tại chính quốc, cũng như những nước thuộc địa có những chuyển biến lớn, đó là đã đến lúc phải đứng lên để giành tự do và chống áp bức, ông viết: “Tự do, chống áp bức: đó là những điều mà Ngài thượng thơ muốn làm cho “những người anh em da màu của Ngài” hiểu, những người an hem này tuy đang bị một đế quốc ghê tởm nhất áp bức một cách tàn tệ nhất, nhưng vẫn còn cứ lịm đi trong một giấc mê man triền miên.
Chúng ta những con người của các thuộc địa, chúng ta sẽ là những tên 14 chí hèn nhát, nếu chúng ta không nhất tề đáp ứng lời kêu gọi của “ông anh cả của chúng ta”. Có tôi đây” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Đầu thế kỷ XX là thời kỳ phát triển mạnh của chủ nghĩa tư bản với giai đoạn tột cùng là chủ nghĩa đế quốc, các tư tưởng, học thuyết phát triển không chỉ phản ánh những mâu thuẫn nội tại trong chính xã hội đó mà còn chỉ ra những con đường, những phương pháp mới nhằm giúp cho chúng ta có các phương pháp, cách làm mới để cải tạo lại xã hội theo hướng hoàn thiện hơn. Nguyễn An Ninh đã chịu tác động trực tiếp của Cách mạng tháng mười Nga và ông coi đây như là một phương pháp mới cho sự đấu tranh của các nước thuộc địa cũng như các dân tộc bị áp bức, nhất là đối với Việt Nam.
Nguyễn An Ninh viết, “Để áp dụng thành công các chương trình vô sản của chúng tôi, chúng tôi muốn đưa những người thợ của chúng tôi thẳng đến bậc đại học” hay “ Những người bôn – sê – vích, nhưng còn bạn, bạn nhà quê Đông Dương, số phận bạn thật đáng thương! Giữa một sự giàu có xốn mắt, bạn sống như một người cùng khổ, xa lạ giữa mọi người.” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Về xã hội, trong thời kỳ nay đi liền với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, các thành phần trong xã hội có sự phân hóa rõ rệt. Bên cạnh sự xuất hiện của giai cấp thống trị mới là sự phát triển của giai cấp tư sản, địa chủ, quý tộc, nông dân, công nhân, nền kinh tế càng phát triển thì giai cấp công nhân càng lớn mạnh, đi liền với đó là mâu thuẫn của giai cấp công nhân và giới chủ ngày càng gay gắt. Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong thời kỳ này diễn ra thường xuyên và liên tục với các cuộc bãi công lớn ở các nước như Anh, Mỹ… Giai cấp công nhân trong giai đoạn này là những người làm thuê cho các ông chủ, cho giai cấp tư sản.
Bị áp bức bóc lột tự họ đã thành lập các tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình, Nguyễn An Ninh viết: 15 “Không còn muốn để các tên tư bản thuộc mọi màu da bóc lột, giai cấp lao động đã tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình. Ngưng sản xuất đó là vũ khí duy nhất họ có được, và từ năm 1914 cho tới nay, người ta đã chứng kiến các phong trào công nhân nổ ra khắp nơi.” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Khi xuất hiện một phương thức sản xuất mới thì đòi hỏi lực lượng sản xuất phải phù hợp với nó, cũng như vậy khi xã hội thay đổi thì chính trị -xã hội phải thay đổi theo để phù hợp chính những tác động này đã ảnh hưởng tới việc hình thành các tư tưởng mới tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bắt đầu có sự xuất hiện các đồn điền cao su, các hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp đi liền với nó là sự xuất hiện của giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân mới đầu từ đấu tranh tự pháp đã chuyển thành đấu tranh tự giác và có sự lãnh đạo của các tổ chức, hội đoàn. Trong thời kỳ này khoa học kỹ thuật phát triển với những phát minh khoa học mới, các lý thuyết mới được ra đời. Về sinh học thế kỷ XIX có học thuyết của Charles Darwin, với tác phẩm nguồn gốc các loài đã làm cho con người nhận thức lại mình sinh ra từ đâu, không phải do thiên chúa tạo ra. Học thuyết về di truyền học của Gregor Mendel cũng được biết đến, các thuốc vắc xin giúp con người chống chọi lại với bệnh tật cũng được phát triển nhờ công của nhà khoa học Louis Pasteur.
Bước chuyển lớn nhất của thời kỳ này là phát minh ra điện với góp sức của các nhà khoa học như Samuel Morse phát minh về điện báo giúp con người có thể truyền tải thông tin một cách nhanh hơn. Thomas Edison với phát minh ra bóng đèn điện và bước đầu xây dựng các cơ sở, nhà máy phát điện… Những phát kiến khoa học này đã phần nào giúp cho sự giải phóng con người khỏi lao động và góp phần làm tăng sản lượng của các ngành công nghiệp. Nguyễn An Ninh viết, “Khoa học kỹ thuật bên Âu tây ngày nay đã trở thành một ngành độc lập trong xã hội, chuyên chăm lo khảo sát cho biết 16 vì sao vật nặng thì rớt, biết nước thì chảy xuống dưới nhưng người ta cũng có thể làm cho nước chảy ngược lên được”. “ Bên Âu Tây đất hẹp mà người thì đông, đấu tranh để sinh tồn rất khổ, nên bên Âu tây phải dùng khoa học để ép đất sanh sản, như ép chày ra mỡ, như nước Hà Lan phải dùng khoa học để lấn đất ra biển.
Dân đã đông mà còn cạnh tranh nhau, nên Âu tây thường phải dùng khoa học của Âu tây để chống lại Âu tây” (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, 2009, tr. Đầu thế kỷ XX tại châu Á có một cuộc cách mạng lớn đó là cuộc cách mạng Tân Hợi (năm 1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đã lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm tại Trung Quốc, thiết lập chế độ mới dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản. Tôn Trung Sơn nêu ra thuyết Tam dân: “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Nhưng theo Nguyễn An Ninh thì nó vẫn bị hạn chế bởi do giai cấp tư sản lãnh đạo, mà giai cấp tư sản lãnh đạo một cuộc cách mạng nhằm đánh đổ chế độ phong kiến, dù là do giai cấp lãnh đạo mới nhưng nó vẫn chỉ mang lại lợi ích của một số ít người, chủ yếu là quyền lợi của giai cấp tư sản.
Do đó là là một cuộc cách mạng không triệt để.