Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương và 9 tiết. 5 NỘI DUNG Chƣơng 1. SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƢỜNG TỘ 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1.
Về kinh tế Trong nông nghiệp: Diện tích canh tác đã tăng một cách đáng kể, tuy vậy vẫn không bù lại được số ruộng bị bỏ hoang do thiên tai, mất mùa, nhiều nông dân đã phải đi lưu tán. Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính độc canh, đại đa số bộ phận diện tích đất canh tác đều trồng lúa. Do kỹ thuật lạc hậu nên năng suất không cao (khoảng 9 tạ/ha). Đến cuối những năm cuối thế kỷ XIX, tư bản Pháp tăng cường cướp đoạt ruộng đất của nông dân: “Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền mà chúng gọi là đất vô chủ” [4; tr.
Tiếp đến năm 1897, triều đình Huế lại ký điều ước nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của vua Nguyễn. Từ đây thực dân Pháp tha hồ tước đoạt ruộng đất của nhân dân ta. “Năm 1900, diện tích của các đồn điền người Âu là 322.000ha, trong đó ở Nam Kỳ là 78.
Phương thức kinh doanh trong các đồn điền của Pháp chủ yếu vẫn là phát canh thu tô, thực dân Pháp ít quan tâm đến kỹ thuật khiến cho đất đai ngày càng nghèo nàn, sức lao động trở nên kiệt quệ. Trong thủ công nghiệp: Đến giữa thế kỷ XIX, thủ công nghiệp Việt Nam đã khá phát triển. Một số nghề có xu hướng tách khỏi nông nghiệp hình thành ra các làng nghề hay phố nghề: Nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà; nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông)… Đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam thì thủ công nghiệp Việt Nam bắt đầu chịu sự tác động và chi phối của chiến tranh như nghề đóng tàu thuyền, làm vũ khí…Bên cạnh các xưởng thủ công do nhà nước quản lý, một số xưởng thủ công dân gian đã mọc lên ở nhiều nơi. Nhìn chung vào cuối thế kỷ XIX, nền sản xuất thủ công nghiệp nước ta bắt 6 đầu có những thay đổi, hoặc do nhu cầu chiến tranh, hoặc do nhu cầu của công cuộc đô hộ bóc lột của tư bản Pháp.
Các hoạt động thủ công vẫn còn gắn chặt với nông nghiệp, tồn tại với tư cách là nghề phụ gia đình. Trong công nghiệp: Trong khi kìm hãm nông nghiệp trong vòng lạc hậu, thực dân Pháp đầu tư vào một số ngành kinh tế để khẳng định vị trí của tư bản Pháp ở Đông Dương. Trước hết là đầu tư những ngành khai mỏ: thiếc, kẽm, sắt, thủy ngân…đặc biệt là than. Trong lĩnh vực khai thác mỏ, mỏ than đặc biệt chú ý, tổng sản lượng khai thác than năm 1892 là 95.000 tấn, đến năm 1900 là 201.
Thực dân Pháp chú trọng xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, vừa thỏa mãn nhu cầu thị trường Đông Dương và kiếm được nhiều lợi nhuận, vừa có khả năng cạnh tranh ở thị trường Viễn Đông. Phương thức kinh doanh chủ yếu là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa sức lao động thủ công kết hợp với cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản với phong kiến, nhờ đó mà lợi nhuận thu được không ngừng tăng lên. Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở nước ta nhưng đó chỉ là một nền công nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng, thể hiện rõ tính chất thuộc địa. Trong thương nghiệp: Trong lĩnh vực thương nghiệp, Việt Nam là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp: “Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chỉ phải đóng thuế 2,5% trong khi hàng hóa các nước khác phải đóng thuế 5% giá trị” [4; tr.
Ngoài ra thực dân Pháp còn ra sức chèn ép thương nhân Việt Nam, dung dưỡng cho thương nhân Hoa Kiều làm đại lý cung ứng hàng xuất khẩu, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa Pháp. Ngày 11/1/1892, Pháp ra một đạo luật mới, quy định hàng hóa Pháp hoàn toàn được miễn thuế còn hàng hóa nước khác phải đóng từ 25% đến 120% giá trị khi nhập khẩu vào Việt Nam. Chính sách độc quyền thương mại của thực dân Pháp làm bần cùng hóa nhân dân lao động và bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Toàn bộ chính sách đầu tư, khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Đông Dương là một chính sách hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận nhằm trói buộc nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp.
Đây là chính sách cướp bóc của thực dân Pháp bằng 7 phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình thức bóc lột dã man thời trung cổ. Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà nước cũng bị khốn quẫn. Ngay từ khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: “Tài lực của nhân dân không bằng 5,6 phần 10 năm trước”[6; tr. Năm 1860 Nguyễn Tri Phương than: “Quân và dân của đã hết sức yếu”[6; tr.
Dưới triều Nguyễn, thời Gia Long, Minh Mạng, nhà nước còn đúc được tiền, nhưng đến thời Tự Đức nhà nước không đúc được tiền nữa nên tiền đồng, tiền kẽm rất ít, phải nhờ thương nhân Trung Hoa đúc một hạng tiền lấy niên hiệu Tự Đức vừa mỏng vừa xấu, gọi là tiền sếnh, nhân dân không ai chịu tiêu. Đời sống của nhân dân lại càng điêu linh, cực khổ. Trong lúc đó, nhà Nguyễn vẫn tăng cường bóc lột nhân dân để thỏa mãn cuộc sống xa hoa, phung phí của chúng và nộp chiến phí cho giặc. Chúng tìm mọi cách để bóc lột nhân dân và kiếm tiền như đánh thuế rượu, bỏ lệ cấm thuốc phiện để đánh thuế.
Bộ máy quan liêu đã thối nát lại càng trở nên đồi bại. Chúng chỉ biết tham ô vơ vét và bóc lột nhân dân. Cuộc sống của người dân đã khổ cực lại càng thêm cực khổ. Về chính trị - xã hội Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.
Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án.; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ đoạn “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”. Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương gồm các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, đến ngày 19/4/1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên Bang Đông 8 Dương.
Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên toàn quyền người Pháp, đại diện cho chính phủ Pháp trực tiếp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới hội đồng tối cao Đông Dương, có các cơ quan Trung ương về quân sự, dân sự, pháp lý, thanh tra, cảnh sát, tài chính…đặc trách các công việc giúp toàn quyền điều hành bộ máy thống trị và khai thác bóc lột. Việc củng cố chính quyền Liên bang gắn với việc củng cố chính quyền các xứ. Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng.
Nước Việt Nam chia làm ba xứ với ba chế độ khác nhau. Nam kỳ là xứ thuộc địa gồm 20 tỉnh do thực dân trực tiếp cai trị về mọi mặt. Trung Kỳ là xứ bảo hộ chia làm 14 tỉnh do một viên quan khâm xứ Pháp đứng đầu, triều đình Huế vẫn được duy trì với tên gọi “chính phủ Nam triều”. Nhưng mọi quyền hành đều ở Tòa Khâm sứ do viên Khâm sứ Pháp đứng đầu.
Ngoài ra còn có hội đồng bảo hộ gồm một hay hai đại diện của phòng Thương mại hay Canh nông, hai đại diện của Viện Cơ mật. Bắc Kỳ là xứ “nửa bảo hộ” do một viên thống sứ người Pháp đứng đầu. Bên cạnh Phủ Thống sứ có Hội đồng bảo hộ và hai Phòng Thương mại và Canh nông ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Bắc Kỳ có 26 tỉnh, 35 đại lí, 4 đạo quan binh và hai thành phố.
Hệ thống chính quyền ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ từ cấp tỉnh trở xuống về đại thể giống nhau. Đứng đầu mỗi tỉnh là một viên Công sứ người Pháp. Bên cạnh tòa Công sứ, hệ thống tổ chức quan lại cũ vẫn được duy trì. Tất cả các quan “Nam triều” này chỉ đóng vai trò thừa hành những quyết định của Tòa Công sứ Pháp.
Mỗi tỉnh chia làm nhiều phủ, huyện bao gồm các tổng, xã, làng, đạo, châu đối với các tỉnh miền núi là các tổng, làng, bản. Song song với việc tăng cường và củng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù nhằm nhanh chóng hoàn thành triệt để công cuộc bình định, để “phòng thủ Đông Dương”, “ mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương” và phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột. Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát đó là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với chế độ riêng cho từng xứ cùng hệ thống tòa án, nhà tù dầy đặc khắp Việt Nam. Từ huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà tù và trại giam.
Ngoài ra thực dân Pháp còn 9 thực hiện nhiều thủ đoạn chia rẽ dân tộc và tôn giáo. Bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác, bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng Về xã hội, nhà Nguyễn dùng luật pháp hà khắc, quân đội, nho giáo phản động làm công cụ kìm kẹp nhân dân về mọi mặt, cho nên mâu thuẫn xã hội vốn đã có mâu thuẫn nay càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra và kéo dài. Vì đời sống cơ cực, tô thuế, sưu dịch nặng nề và bởi các chính sách đối nội đối ngoại không phù hợp của triều Nguyễn nên các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra, khó có thể dập tắt.