Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Triết học của tác giả Trần Đức Khóa (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019) tập trung nghiên cứu hệ thống tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ trong thế kỷ XIX và phân tích giá trị lịch sử của hệ tư tưởng này đối với sự nghiệp Đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay.

Theo tác giả, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với truyền thống yêu nước, thể hiện không chỉ qua các cuộc kháng chiến vũ trang mà còn qua tư tưởng duy tân nhằm tạo nội lực từ bên trong. Nửa sau thế kỷ XIX, từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) đến trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1858), các chính sách kinh tế - xã hội của triều đình nhà Nguyễn đã bộc lộ nhiều điểm khủng hoảng. Khi thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng, giới trí thức phong kiến phân hóa thành các bộ phận: chủ chiến, chủ hòa, thủ cựu và duy tân. Trong trào lưu duy tân nửa sau thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ nổi lên như một gương mặt tiêu biểu với các bản điều trần mang tính hệ thống, kết hợp giữa mục tiêu canh tân đất nước và giữ gìn độc lập dân tộc.

Văn bản khóa luận xác định mục đích nghiên cứu và 3 nhiệm vụ cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ.
  2. Phân tích những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trên các phương diện đời sống xã hội.
  3. Chỉ ra ý nghĩa của việc nghiên cứu những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và tiến trình Đổi mới tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung bao gồm tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ trên bốn lĩnh vực: kinh tế; chính trị - ngoại giao; văn hóa - giáo dục; quốc phòng - an ninh. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian và không gian bao quát từ bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX cho đến thực tiễn công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ mốc Đại hội VI (1986) đến giai đoạn 2015–2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt cơ sở lý luận, khóa luận được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy vật và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tác giả vận dụng các nguyên lý cơ bản như tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại của ý thức xã hội trong tiến trình lịch sử. Bên cạnh đó, đề tài quán triệt phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử tư tưởng dân tộc, đồng thời dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội toàn quốc và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả lựa chọn cách tiếp cận lịch sử dưới góc độ triết học chính trị - xã hội. Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và logic nhằm phục dựng hoàn cảnh ra đời và tiến trình phát triển tư tưởng của nhân vật.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản tư liệu để giải mã các luận điểm trong di thảo điều trần.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch trong việc khái quát hóa các giá trị lý luận và liên hệ thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu nhằm đánh giá sự tương quan giữa các chính sách phong kiến nhà Nguyễn, các đề xuất cải cách của Nguyễn Trường Tộ và đường lối đổi mới đương đại.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được khai thác từ các công trình nghiên cứu và tập hợp di thảo tiêu biểu:

  • Tác phẩm Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX (1961) của Đặng Huy Vận và Chương Thâu.
  • Tập tài liệu khảo cứu Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo (2002) do Trương Bá Cần biên soạn, tập hợp toàn bộ các văn bản điều trần gửi triều đình Huế.
  • Chuyên khảo Nguyễn Trường Tộ - Thời thế và tư duy cách tân (2001) của Hoàng Thanh Đạm.
  • Các khảo cứu lịch sử tư tưởng của Nguyễn Đình Đầu (Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức, 2013) và Chương Thâu (Nguyễn Trường Tộ - Nhà Cải Cách Lớn Của Việt Nam Thế Kỷ XIX, 2014).
  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng hệ thống niên giám, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 1986–2015.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Sự hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ

Chương đầu tiên của khóa luận tập trung tái hiện toàn cảnh bối cảnh lịch sử, tiểu sử nhân vật và các nhân tố tiền đề dẫn đến sự hình thành thế giới quan duy tân của Nguyễn Trường Tộ.

Về bối cảnh kinh tế, nông nghiệp thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX mang tính độc canh cây lúa, kỹ thuật canh tác thô sơ khiến năng suất chỉ đạt khoảng 9 tạ/ha. Tình trạng ruộng đất hoang hóa diễn ra nghiêm trọng do thiên tai mất mùa và nông dân lưu tán. Từ năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấp quyền lập đồn điền trên "đất vô chủ"; năm 1897 triều đình Huế nhượng quyền khai khẩn đất hoang và ngày 1/5/1900, thực dân Pháp phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của triều đình. Diện tích đồn điền của người Âu năm 1900 đã lên tới 322.000 ha (riêng Nam Kỳ chiếm 78.000 ha). Về công nghiệp khai khoáng, sản lượng khai thác than tăng từ 95.000 tấn năm 1892 lên 201.000 tấn năm 1900. Trong thương nghiệp, hàng hóa Pháp ban đầu chỉ chịu thuế 2,5% so với mức 5% của các nước khác; đến đạo luật ngày 11/1/1892, hàng hóa Pháp được miễn thuế hoàn toàn, còn hàng hóa các quốc gia khác bị đánh thuế nhập khẩu từ 25% đến 120%. Triều đình Tự Đức rơi vào khủng hoảng tài chính, phải nhờ thương nhân Trung Hoa đúc loại "tiền sếnh" mỏng xấu khiến dân chúng không chấp nhận lưu hành.

Về bối cảnh chính trị - quân sự và văn hóa, ngày 17/10/1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Campuchia) và sáp nhập Lào vào ngày 19/4/1899. Chế độ cai trị chia cắt Việt Nam thành ba xứ với quy chế pháp lý khác biệt: Nam Kỳ là xứ thuộc địa (20 tỉnh); Trung Kỳ là xứ bảo hộ (14 tỉnh); Bắc Kỳ là xứ nửa bảo hộ (26 tỉnh, 35 đại lý, 4 đạo quan binh, 2 thành phố). Về văn hóa, tỷ lệ người dân thất học vượt mức 90%; năm 1896 Pháp thành lập trường Quốc học Huế nhằm đào tạo công chức phục vụ bộ máy cai trị. Quân đội triều đình nhà Nguyễn lạc hậu, vũ khí thô sơ (gươm giáo, súng điểu thương), kỹ thuật huấn luyện vẫn dựa vào đồ trận ngũ hành, long thao hổ lược khiến năm 1859 tướng Nguyễn Tri Phương phải thốt lên: "Quân và dân của đã hết, sức đã yếu".

Về tiểu sử và tiền đề lý luận, Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An trong một gia đình Công giáo; thân sinh là thầy thuốc Bắc Nguyễn Quốc Thư. Ông theo học Nho học với các thầy Tú Giai, Cống Hựu và quan huyện Địa Linh, thông hiểu Tứ thư Ngũ kinh nhưng không tham gia khoa cử. Sau đó, ông dạy chữ Hán tại Chủng viện Xã Đoài và được Giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) truyền dạy tiếng Pháp, các kiến thức khoa học phương Tây. Giai đoạn 1858–1861, ông theo Giám mục Gauthier sang Pháp khảo sát thực tế các cơ sở công nghiệp, học thuật. Khi trở về nước năm 1861, ông từ chối lời mời cộng tác lâu dài của quân đội viễn chinh Pháp, chỉ nhận làm thông dịch trong thời gian ngắn để hỗ trợ đàm phán bảo vệ quyền lợi quốc gia. Từ năm 1861 đến 1871, ông liên tục gửi hơn 58 bản điều trần lên vua Tự Đức và Viện Cơ mật. Ông qua đời ngày 23/11/1871 (tức ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24). Tiền đề tư tưởng của ông là sự kết hợp giữa truyền thống đạo đức Nho học, tri thức khoa học - kỹ thuật phương Tây và tinh thần nhân ái của Kitô giáo.

Chương 2. Những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ

Chương 2 phân tích chi tiết nội dung các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục, quốc phòng an ninh và ngoại giao.

Trong cải cách kinh tế, ông đề xuất các biện pháp cụ thể trên ba phương diện:

  • Nông nghiệp: Coi nông nghiệp là nền tảng; đề nghị thành lập bộ Canh nông chuyên trách; tổ chức biên soạn bộ sách Nông chính toàn thư tổng kết kinh nghiệm canh tác; thực hiện chính sách "kinh lí cương giới", vẽ bản đồ địa đồ toàn quốc và từng địa phương; áp dụng chính sách dinh điền cho phép di dân nghèo và tù nhân đi khai hoang (tù nhân được đem theo gia đình và hưởng trọn vẹn thành quả khai phá); xây dựng hệ thống thủy lợi đào kênh phân lũ tại Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình nhằm bảo vệ đê điều và phục vụ tưới tiêu.
  • Thương nghiệp: Chủ trương mở cửa biển cho tàu thuyền quốc tế vào giao thương rộng rãi ngoài các cửa biển quy định trong Hòa ước 1862 (cửa Hàn, Ba Lạt, Quảng Yên); thực hiện bảo hộ hàng nội hóa bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu ngoại quốc gấp đôi hàng hóa trong nước; đề xuất đào tuyến kênh đào nội địa nối từ Hải Dương vào kinh đô Huế để giải quyết trở ngại vận tải đường biển và tránh nạn cướp biển, phong tỏa đường thủy; phân chia ba hình thức khai thác khoáng sản: tự khai thác, liên doanh với nước ngoài hoặc nhượng quyền thu thuế một phần.
  • Tài chính và thuế khóa: Đo đạc, phân hạng ruộng đất xấu tốt để định mức thuế điền thổ hợp lý, chống nạn gian lận lậu thuế của tầng lớp cường hào địa chủ; kiểm kê dân số định kỳ hàng năm nhằm chấn chỉnh thuế đinh; thực hiện chính sách đánh thuế lũy tiến đối với nhà giàu nhằm điều tiết bất bình đẳng xã hội; đánh thuế tiêu thụ đặc biệt rất nặng vào sòng bạc, rượu, thuốc lá, thuốc phiện, chè và các mặt hàng xa xỉ phẩm; kiểm soát chặt chẽ ngân sách thu chi và lưu thông hàng hóa của quốc gia.
Lĩnh vực cải cách Thực trạng thời Nguyễn (thế kỷ XIX) Đề xuất then chốt của Nguyễn Trường Tộ
Nông nghiệp & Thủy lợi Độc canh lúa, kỹ thuật thô sơ (năng suất ~9 tạ/ha), ruộng hoang hóa nhiều, vỡ đê mùa lũ. Thành lập bộ Canh nông; soạn Nông chính toàn thư; cấp đất cho tù nhân đi khai hoang; đào kênh phân lũ ở 5 tỉnh phía Bắc.
Thương nghiệp Bế quan tỏa cảng, giao thương hạn chế ở ba cửa biển theo hiệp ước 1862; vận tải ven biển bị cướp phá. Mở rộng cửa biển buôn bán quốc tế; đánh thuế hàng ngoại gấp đôi hàng nội; đào tuyến kênh lớn từ Hải Dương vào kinh đô Huế.
Tài chính & Thuế khóa Sổ sách điền thổ sai lệch, cường hào lũng đoạn trốn thuế, người nghèo chịu sưu thuế tương đương người giàu. Đo đạc lại ruộng đất toàn quốc; thống kê hộ tịch hàng năm; đánh thuế nặng nhà giàu, sòng bạc, thuốc phiện, rượu và hàng xa xỉ.
Võ bị & Quân sự Binh lính vũ trang kém, lương bổng thiếu thốn, huấn luyện theo trận đồ bát quái, ngũ hành. Giảm 50% quân số, tăng gấp đôi lương cho tráng binh; nuôi vợ lính hy sinh trọn đời; lập xưởng đúc súng bí mật; xây dựng dân quân làng xã.
Ngoại giao Bế quan tỏa cảng, dao động lúng túng giữa chủ chiến và chủ hòa cục bộ, cô lập quốc tế. Tạm hòa hoãn với Pháp để canh tân nội lực; thiết lập sứ quán tại Pháp và lãnh sự tại Sài Gòn; bang giao đa phương ("cả hai bên cùng có lợi").

Trong chính trị - xã hội, Nguyễn Trường Tộ chủ trương quản lý đất nước bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, đề cao tinh thần "pháp trị", giảm biên chế bộ máy quan lại cồng kềnh, phân định rõ chức trách nhiệm vụ của từng cấp hành chính. Về văn hóa - giáo dục, ông phê phán lối học từ chương cử tử khoa cử Nho học kinh viện, đề xuất cải cách chương trình giáo dục theo hướng thực nghiệp, đưa các môn khoa học kỹ thuật, thiên văn, địa lý vào giảng dạy; dùng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp để tiếp thu tri thức văn minh phương Tây; cử học sinh ra nước ngoài du học và mở trường kỹ thuật công nghệ.

Trong quốc phòng an ninh và ngoại giao, ông xem cải tu võ bị là nhiệm vụ hàng đầu. Ông đề ra 5 giải pháp:

  1. Tiếp thu lý thuyết quân sự hiện đại kết hợp binh thư cổ điển, soạn thảo binh thư mới với phương châm lý thuyết gắn liền thực hành.
  2. Coi trọng người lính: giảm bớt một nửa quân số kém chất lượng, nhân đôi mức lương cho tráng binh được tuyển chọn; trợ cấp trọn đời cho vợ con tử sĩ; cấm sỉ nhục, biến quân sĩ thành người hầu hạ riêng cho quan lại.
  3. Chuẩn hóa công tác đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự, tổ chức khảo hạch định kỳ năng lực sĩ quan, sa thải những người kém cỏi, thuê chuyên gia phương Tây huấn luyện kỹ thuật.
  4. Tăng cường phòng thủ thành lũy hiểm yếu, xây dựng xưởng bí mật tự đúc vũ khí và sản xuất thuốc nổ, thành lập lực lượng dân quân tự vệ vũ trang tại các địa phương vừa làm nhiệm vụ sản xuất vừa bảo vệ trật tự an ninh.
  5. Cài cắm mạng lưới tình báo ngầm trong vùng bị Pháp chiếm đóng và phái người sang Paris theo dõi động thái chính trường nước Pháp để chớp thời cơ thu hồi đất đai.

Về ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ kiên quyết phản đối chính sách bế quan tỏa cảng. Ông chủ trương "tạm hòa hoãn với Pháp" nhằm tranh thủ thời gian xây dựng nội lực; thực hiện chính sách ngoại giao đa phương, tận dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc phương Tây để kiềm chế Pháp; lập cơ quan đại diện ngoại giao thường trực tại Sài Gòn và Paris; duy trì nguyên tắc đối ngoại "cả hai bên cùng có lợi", xử lý mềm dẻo nhưng kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia.

Chương 3. Vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 tổng kết các thành tựu và hạn chế của công cuộc Đổi mới tại Việt Nam giai đoạn 1986–2019, từ đó liên hệ các giá trị tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ vào thực tiễn phát triển đất nước.

Khóa luận trích dẫn hệ thống số liệu kinh tế - xã hội cụ thể ghi nhận thành tựu Đổi mới:

  • Kinh tế: Sau 10 năm đổi mới (1996), Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; sau 25 năm (2010), ra khỏi nhóm nước nghèo kém phát triển. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001–2010 đạt 7,26%/năm; giai đoạn 2011–2015 đạt bình quân 5,8%/năm. Quy mô GDP năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD (gấp 3,26 lần so với năm 2000), năm 2011 đạt khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người tăng từ 1.168 USD (năm 2010) lên khoảng 1.900 USD/người (năm 2014). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2006–2010 đạt gần 45 tỷ USD (vượt 77,8% kế hoạch); vốn ODA cam kết vượt 31 tỷ USD và giải ngân đạt 13,8 tỷ USD. Cơ cấu GDP năm 2010: công nghiệp chiếm 41,1%, dịch vụ chiếm 38,3%, nông nghiệp giảm xuống 20,6%.
  • Xã hội và Đối ngoại: Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm mạnh từ mức 60% trước đổi mới xuống còn 9,5% (năm 2011) và 7,5% (năm 2013). Lao động qua đào tạo năm 2013 đạt tỷ lệ 49%. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia (gồm 15 đối tác chiến lược), quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương và gần 60 hiệp định khuyến khích, bảo hộ đầu tư.

Bên cạnh thành tựu, tác giả chỉ ra các mặt hạn chế của thực tiễn: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm hoàn thiện; chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác bừa bãi tài nguyên sinh thái; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận cán bộ; bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, cải cách hành chính và tư pháp diễn ra chậm.

Từ những phân tích trên, khóa luận chỉ rõ ý nghĩa vận dụng các tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ vào công cuộc đổi mới hiện nay:

  • Đổi mới tư duy kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế công bằng, quản lý chặt chẽ ngân sách và khai thác hiệu quả tài nguyên đất nước.
  • Cải cách giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ theo hướng thực học, thực nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
  • Xây dựng lực lượng quân đội tinh gọn, hiện đại, chính quy; kết hợp chặt chẽ giữa củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế cơ sở.
  • Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học chính dựa trên nguồn tư liệu lịch sử:

  1. Hệ thống hóa một cách toàn diện các đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ trên năm lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục, quân sự quốc phòng và ngoại giao qua hơn 58 bản điều trần.
  2. Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ từ bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX và sự giao thoa giữa các tiền đề: Nho học truyền thống, khoa học phương Tây và nhân sinh quan Kitô giáo.
  3. Đối chiếu các bài học lịch sử từ thất bại của trào lưu canh tân thời Tự Đức với thực tiễn hơn 30 năm Đổi mới (1986–2019) tại Việt Nam, minh chứng bằng hệ thống số liệu tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và hội nhập ngoại giao có trong văn bản.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc kết nối lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam thế kỷ XIX với yêu cầu lý luận và thực tiễn của công cuộc Đổi mới đất nước, cung cấp góc nhìn triết học về tính tất yếu khách quan của cải cách, mở cửa và hội nhập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản khóa luận chỉ ra tư tưởng của chính Nguyễn Trường Tộ còn chịu những ràng buộc lịch sử nhất định:

  • Chịu ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm tôn giáo.
  • Quan điểm trung quân phong kiến còn nặng nét, hạn chế khả năng nhận thức toàn diện bản chất xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây trong giai đoạn đầu.
  • Một số giải pháp cải cách kỹ thuật có phần vượt quá tiềm lực tài chính và khả năng tiếp nhận thực tế của xã hội Việt Nam đương thời.

Đối với phạm vi của khóa luận, nghiên cứu chủ yếu khai thác tài liệu thành văn qua các di thảo đã dịch thuật và xuất bản, tập trung vào khía cạnh triết học chính trị - xã hội. Hướng nghiên cứu mở rộng có thể tiếp tục đối sánh chi tiết các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với các đề xuất duy tân cùng thời kỳ của Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện để làm rõ tính hệ thống của trào lưu canh tân Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Khoa học Chính trị và Lịch sử Việt Nam cận đại. Khóa luận đặc biệt hữu ích cho những người nghiên cứu chuyên sâu về trào lưu cải cách triều Tự Đức, tư tưởng canh tân của trí thức Công giáo thế kỷ XIX, cũng như các đề tài phân tích sự kế thừa truyền thống tư tưởng dân tộc trong đường lối Đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phần tổng hợp số liệu kinh tế - xã hội thời kỳ đầu Đổi mới (1986–2015) cung cấp tư liệu đối sánh thực tiễn rõ ràng cho các bài giảng lý luận chính trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất những phương thức nào để khai thác tài nguyên khoáng sản của đất nước? Trong các bản điều trần, Nguyễn Trường Tộ đề xuất ba phương thức cụ thể: cho công ty nước ngoài khai thác rồi nhà nước thu lợi một phần; tổ chức liên doanh khai thác giữa nhà nước với nước ngoài; hoặc nhà nước tự đứng ra tổ chức khai thác lấy nguồn tài nguyên.

2. Đề xuất cải cách võ bị của Nguyễn Trường Tộ về chế độ đãi ngộ đối với người lính có nội dung gì đặc thù? Ông chủ trương giảm bớt một nửa số lượng quân lính kém chất lượng, lấy toàn bộ phần lương dôi dư cấp gấp đôi cho những tráng binh được giữ lại. Đồng thời, ông đề nghị nhà nước cấp lương trợ cấp suốt đời cho vợ của những người lính hy sinh vì đất nước, chấm dứt triệt để việc bắt binh lính phục dịch, hầu hạ riêng cho quan lại.

3. Dự án mở trường kỹ thuật công nghệ của Nguyễn Trường Tộ vào năm 1866–1868 diễn ra như thế nào? Năm 1866, sau khi tiếp nhận các bản điều trần số 5 (Kế hoạch làm cho dân giàu, nước mạnh) và số 27 (Tế cấp bát điều), vua Tự Đức đã cử Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier sang Pháp mua sắm máy móc và thuê giáo viên kỹ thuật. Tuy nhiên, đầu năm 1868 khi phái đoàn về nước, do sự phản đối kịch liệt từ giới triều thần Nho sĩ thủ cựu và sự lo ngại của vua Tự Đức về ảnh hưởng của đạo Công giáo, dự án mở trường kỹ nghệ đã bị triều đình đình chỉ.

4. Trong chính sách thuế khóa, Nguyễn Trường Tộ giải quyết vấn đề công bằng xã hội ra sao? Ông chủ trương đo đạc lại ruộng đất toàn quốc để lập địa đồ, phân hạng đất tốt xấu nhằm thu đúng mức thuế điền, xóa bỏ tình trạng lậu thuế do cường hào lũng đoạn. Đáng chú ý, ông đề xuất đánh thuế nặng vào tầng lớp nhà giàu có tài sản lớn và áp thuế tiêu thụ rất cao đối với các mặt hàng có hại hoặc xa xỉ như sòng bạc, rượu, thuốc phiện, thuốc lá và chè.

5. Những tiền đề lý luận chủ yếu cấu thành nên tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ là gì? Hệ thống tư tưởng của ông được hình thành từ ba tiền đề lý luận: nền tảng tri thức Nho học truyền thống được trau dồi từ thuở thiếu thời; các kiến thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật và tư duy duy tân của văn minh phương Tây (tiếp nhận qua Giám mục Gauthier, qua sách Tân thư chữ Hán và chuyến đi thực tế sang Pháp); cùng với nhân sinh quan bác ái, yêu người của Kitô giáo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Đức Khóa đã tái hiện bức tranh sinh động về con người, thời cuộc và hệ thống tư tưởng cải cách toàn diện của Nguyễn Trường Tộ trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và ngoại giao. Công trình phân tích sâu sắc các tiền đề lịch sử - triết học tạo nên tầm vóc tư duy vượt trước thời đại của nhà duy tân xứ Nghệ trong bối cảnh triều Nguyễn khủng hoảng nửa sau thế kỷ XIX. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định giá trị kế thừa mang tính quy luật của các tư tưởng mở cửa, trọng thực nghiệp và tăng cường nội lực đối với công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.