Chương 1 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI NHẬT BẢN SAU CHIEN TRANH THE GIỚI THỨ HAI VÀ SU CAN THIẾT PHAI CẢI CÁCH Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản chấp nhận tối hậu thư của các nước Đồng minh, đã phải đầu hàng không điều kiện và buộc phải giải giáp toàn bộ lực lượng vũ trang của mình. Nhờ đó, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và thực sự mở ra một trang sử mới cho quá trình phát triển của Nhật Bản. Nhưng trang sử mới tiếp sau chiến tranh này có tốt đẹp hay không phụ thuộc phần lớn vào việc phục hồi và phát triển kinh tế và xã hội Nhật Bản lúc đó. Nhưng muốn nhanh chóng phục hồi và phát triển được nước Nhật nói chung và nền kinh tế Nhật Bản kiệt quệ do chiến tranh nói riêng, Nhật Bản phải có những cải cách căn bản nhằm tái lập lại một xã hội và một nền kinh tế bình thường.
Người Nhật sau chiến tranh đã nhận thức được điều đó, họ thấy được sự tất yếu phải tiến hành những cải cách căn bản đó. Vậy, những cơ sở kinh tế - xã hội trong và ngoài nước nào của Nhật Bản sau chiến tranh buộc và khiến Nhật Bản phải đề ra và quyết tâm thực hiện bằng được những cải cách căn bản về kinh tế và xã hội? 1. Sự cần thiết phải thay đỗi mục tiêu phát triển Cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản vẫn theo đuổi mục đích phát triển đất nước thông qua bành trướng lãnh thé bằng các hành động xâm lược vũ trang. Việc xâm lược các nước châu Á láng giềng và tham gia Chiến tranh thé giới thứ hai chính là vì mục dich đó.
Từ khi nỗ ra cuộc chiến tranh với Trung Hoa vào tháng 7 năm 1937 đến khi tuyên bố đầu hàng vào thang 8 năm 1945, Nhật Ban đã tung mọi lực lượng vao cuộc chiến. -12- Đề thực hiện mục đích này, cùng với việc áp đặt sự kiểm soát gắt gao và tiến hành quân sự hoá nền kinh tế, cơ cấu công nghiệp cũng đã được chuyền thành một khu vực sản xuất rộng lớn phục vụ các mục đích quân sự. Trong phạm vi nước Nhật, đã có sự cải tô lớn đối với các nghành công nghiệp dân sự, bắt đầu băng việc nghành công nghiệp đệt và các doanh nghiệp nhỏ. Gần như tất cả các công ty thuộc các ngành dân sự này đều bị đóng cửa và tuyệt đại đa số nhà máy và thiết bị nghành dệt đã được biến thành sắt vụn dé sản xuất thép.
Các nhà máy được chuyên sang sản xuất đạn dược va quân trang, quân dụng. Các công ty và tất cả các nghành công nghiệp đều bị đóng cửa và nhân viên của họ đều bị cưỡng bức vào làm trong các cơ sở sản xuất đạn dược. Thép thiếu nhiều đến nỗi, ngay cả các lan can cầu và đường ray xe điện đều bị dỡ bỏ. Các nhà máy sản xuất máy bay đã được mở rộng trên quy mô lớn vào giữa cuộc chiến tranh, chúng đã huy động rất nhiều thiết bị và nhân viên nhằm hoàn thành kế hoạch đề ra.1 cho chúng ta cùng thấy một số dit liệu về sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trong thực tế, chỉ tồn tại một khu vực sản xuất tối thiểu phục vụ đời sống nhân dân và khu vực này cũng đã bị siết lại tới mức cùng kiệt. Trong trường hợp các hàng hóa công nghiệp khác, như thực phẩm, dệt, bột giấy và hóa chất, tất cả đều giảm mạnh vào đầu những năm 1940. Toản bộ ngoại tệ mà các công ty kinh doanh có được đều phải nộp lại cho nhà nước để nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất quân sự vả việc sử dụng ngoại tỆ của họ cũng bị kiểm soát gắt gao. Chẳng hạn, nếu các công ty muốn nhập khâu những nguyên liệu vật tư cần thiết cho sản xuất, đều phải xin phép chính phủ cho từng trường hợp một.1: Sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong Chiến tranh thé giới thứ hai Danh mục 1941 1942 1943 1944 1945 Máy bay (Chiếc) 6.240 Súng trường (1000 cái) 729 440 630 827 209 Thuộc sting và thuộc nô (tan) 52.279 Téng cộng (chỉ số giá trị thực tế, 474 659 923 1406 447 1937=100) Nguon: Okazaki Bunkun (chủ biên), Kihon Kokuryoku Dotai Soran (Sổ tay về sức mạnh quốc gia cơ bản), Viện nghiên cứu kinh tế quốc dân, 1953.79] -14- Đồng thời, vào những năm tháng này, bất cứ một người nào có khả năng đều bị huy động triệt để.
Vì có khoảng từ bốn đến năm triệu người đã được động viên vào các lực lượng vũ trang do đó tình trạng thiếu lao động cho sản xuất đã trở nên hết sức nghiêm trọng, Những thanh niên, đàn ông khỏe mạnh là lực lượng lao động chính trong từng gia đình, có khả năng nhất cũng bi đưa vào quân đội và xung trận làm bia đỡ đạn ngoài mặt trận. Không chỉ riêng nam giới được huy động mà cả phụ nữ cũng được lôi kéo vào các đội tình nguyện dé làm việc trong các nhà máy. Hau như tất cả các trường phé thông cao trung đều phải nghỉ học và học sinh được phái đến các nhà máy làm việc. Trong khi đó, những người dân thường ở địa phương (chủ yếu là người già, phụ nữ chân yếu tay mềm và trẻ em) lại phải sống những ngày khốn khó, thiếu thốn với mối lo thường trực hàng ngày là mong sao tìm được chỗ trú ân an toàn dé mong thoát khỏi các cuộc oanh tac, giữ nguyên được mạng sống.
Như vậy, có thé nói, để chuẩn bị cho cuộc Chiến tranh thé giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản đã bị quân sự hoá đến mức cao nhất có thể, nhằm phục vụ cho mục đích xâm lược và banh trướng lãnh thé của mình. 71] Việc huy động moi nguồn lực cho chiến tranh đã khiến cho cuộc sống của người Nhật Bản ngày càng theo chiều hướng xấu đi. Các mặt hàng thiết yếu hàng ngày cực kỳ thiếu thốn, hầu như tất cả các mặt hàng đều được cung cấp theo khâu phần và chăng có gì để ăn nên mọi người làm việc trong các nhà máy quân sự đã phải bỏ ra ngoài tới các vùng nông thôn để tìm mua lương thực. Các tàu hỏa chật ních người với những bao tải trên lưng.
Vì số lượng lương thực cung cấp không đủ sống nên buôn bán chợ đen và tình trạng hai giá tồn tại dai dăng. Bỏ ra ngoài và mua lương thực ở các vùng nông thôn là vi phạm luật cung cấp lương thực, thực phâm nhưng mọi người đều làm điều đó một cách công khai. Chất lượng cuộc sống giảm mạnh và liên tục.2 sau đây sẽ cho chúng ta thấy mức độ sẵn có của các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày vào tháng 7 năm 1945, bắt đầu bằng các thực phẩm và lấy năm 1941 là năm tình hình cung cấp đã trở nên căng thắng, làm năm cơ sở là 100.2: Tình hình cung cấp các hàng tiêu dùng trong chiến tranh Danh Năm 1941 | Tháng 7-1945 Năm 1937 Tháng 7-1945 mục 11,74 triệu Hàng dệt bông Gạo 9,42 triệu kg 2% kg 200 Thịt 100 20% Hàng dệt len 100 1% Giày ống của Cá 100 30% 10% công nhân 100 ¬ 50% hoặc ít Đô gia vi 100 h Xa phong 100 4% on Giay 100 8% Nguồn: Viện nghiên cứu xã hội Ohara, Taiheiyo Senso Ka no Kokumin Seikatsu (Đời sống quốc gia trong thời gian Chiến tranh Thái Bình Dương). Qua các số liệu ở Bảng 1.2, ta nhận thấy rằng, so với năm 1941, lượng cung cấp thịt giảm còn 20%, cá giảm còn 30% và đồ gia vị giảm còn chưa đầy 50% vào tháng 7 năm 1945.
Nếu so sánh các hàng hóa khác với các con số của năm 1937, chúng ta nhận thấy tình trạng còn tồi tệ hơn, chăng hạn, hàng dệt bông đã giảm còn 2% so với các con số của năm 1937, hàng len còn 1%, giày ông của công nhân còn 10%, xà phòng còn 4% và giây còn 8%. -16- Không chỉ cuộc sống vật chất bị khốn khó, mà cuộc sống tỉnh thần của người dân Nhật Bản trong chiến tranh cũng bị bóp nghẹt. Họ thường xuyên bị cảnh sát theo dõi, mọi phát ngôn tỏ ra nghi ngờ chính phủ và cuộc chiến và mọi hành vi tụ tập đông người đều bị cắm đoán triệt dé hoặc bị đàn áp. Rõ ràng là, để phục vụ cho tham vọng xâm lược bành trướng lãnh thé của giới quân phiệt và tài phiệt Nhật Bản, người dân nước này đã buộc phải hy sinh, phải sống trong những điều kiện cực kỳ thiếu thốn về vật chất và bị kìm kẹp về tinh thần.
Nhưng đáng tiếc là hành động xâm lược, hiếu chiến, dã man của chủ nghĩa phát xít đã bị kết thúc bằng một kết cục thảm hại, ghi dau những trang sử nhục nhã thé thảm trong tiễn trình lịch sử Nhật Bản. Do vậy, khi nói đến những năm tháng chiến tranh, người Nhật Bản cho đến nay vẫn chưa thôi bàng hoàng. Đồng thời, sự thất bại nhục nhã cùng với sự trả giá vô cùng to lớn cho một tham vọng xâm lược ngông cuồng đã khiến người dân Nhật Bản nói chung và giới lãnh đạo Nhật Bản nói riêng nhận thức rõ một điều là: Không thể phát triển đất nước bằng các bóc lột, cưỡng bức và kìm kẹp người dân nước mình và xâm lược, đàn áp người dân nước khác bằng vũ lực, mà phải bằng các biện pháp phát triển kinh tế trong một môi trường dân chủ và hoà bình, khiến mọi người tự nguyện đem mọi nguồn lực sẵn có của mình phục vụ đất nước. Những hậu quả nặng nề do chiến tranh Sự thất bại và nhục nhã của nước Nhật càng lớn hơn, vì sau khi tiếp nhận “Tuyên cáo Posdam” va đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện, nước Nhật còn bị quân Đồng minh và thực tế là quân Mỹ chiếm đóng.
Đồng thời, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đã để lại cho người Nhật một đất nước bị tàn phá nặng nề và đồ nát điêu tàn, khiến nền kinh tế -17- hầu như bị ngừng trệ, mức sản xuất công nông nghiệp bị tụt giảm chỉ bằng một phan mức trước chiến tranh, cuộc sống người dân cực kỳ khó khăn. Sự kiệt qué của nền kinh té Những thiệt hại to lớn về người và của đã làm cho nước Nhật kiệt quệ. Nhật Ban chang những mat hết thuộc địa (diện tích tương đương 44% toàn bộ diện tích nước Nhật) mà nền kinh tế cũng lâm vào tinh trạng bị phá hủy hoàn toan. 61] Nếu tinh cả những người chết trận hoặc do chết vì bệnh tat ở ngoài mặt trận thì con số đó lên tới khoảng 1,14 triệu người trong lục quân, 410.000 người trong hải quân.