Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Từ truyện cổ tích dân gian đến truyện cổ tích của nhà văn (trường hợp Tô Hoài và Phạm Hổ)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Huyền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 01 25), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Chí Quế và PGS. Lã Thị Bắc Lý, hoàn thành vào năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học dân gian giữ vai trò nền tảng, cung cấp cảm hứng và chất liệu biểu đạt cho văn học viết của dân tộc. Trong dòng chảy văn học hiện đại, truyện cổ tích dân gian không bị triệt tiêu mà tiếp tục vận động, chuyển hóa thành một phân nhánh thể loại mới: truyện cổ tích của nhà văn. Thể loại này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm sinh lý, bồi dưỡng ngôn ngữ, năng lực tư duy và xúc cảm thẩm mỹ của trẻ em.

Ở Việt Nam, Tô Hoài và Phạm Hổ là hai gương mặt tiêu biểu của văn học thiếu nhi, có đóng góp trong việc kế thừa, cải biên và sáng tạo truyện cổ tích. Mặc dù mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, song các công trình trước đây đa phần dừng lại ở mức độ nhận định khái quát, khảo sát diện mạo chung hoặc phân tích một vài tác phẩm đơn lẻ. Luận án lựa chọn đề tài này nhằm giải quyết khoảng trống học thuật: khảo sát một cách có hệ thống, toàn diện các tác phẩm viết lại và sáng tác cổ tích mới của Tô Hoài và Phạm Hổ, từ đó làm sáng tỏ quy luật vận động của thi pháp dân gian trong văn học thành văn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Chỉ ra những sáng tạo của hai tác giả Tô Hoài và Phạm Hổ trong thể loại truyện cổ tích viết lại ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
    2. Tiếp cận đối tượng thể loại ở hai bình diện: bình diện lịch sử (trình bày quá trình, đặc điểm phát triển của thể loại qua các giai đoạn lịch sử văn học) và bình diện cấu trúc (khảo sát các yếu tố hợp thành nội dung và hình thức thể loại như đề tài, cảm hứng, hệ thống hình tượng, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu).
    3. Góp phần làm sáng tỏ quy luật bảo tồn và biến đổi của truyền thống nghệ thuật dân gian trong điều kiện lịch sử - xã hội của thời đại mới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Thu thập, đối chiếu và hệ thống hóa các nguồn tài liệu nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
    2. Xác lập, phân tích các đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích do Tô Hoài và Phạm Hổ sáng tạo.
    3. Thực hiện so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa phong cách sáng tạo truyện cổ tích của nhà văn Tô Hoài và nhà văn Phạm Hổ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự ảnh hưởng, dấu ấn của truyện cổ tích dân gian trong các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi của hai nhà văn Tô Hoài và Phạm Hổ.
  • Phạm vi ngữ liệu:
    • Tác phẩm của Tô Hoài: Khảo sát các tiểu thuyết và tập truyện tiêu biểu gồm Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử..., và tập 101 Truyện ngày xưa. Ngữ liệu này được đối sánh trực tiếp với kho tàng truyện cổ tích do học giả Nguyễn Đổng Chi sưu tập, khảo cứu.
    • Tác phẩm của Phạm Hổ: Khảo sát 65 truyện, bao gồm chuỗi truyện về những chú Sẻ con (11 truyện); tập Chuyện hoa chuyện quả (47 truyện); các tác phẩm truyện cổ viết lại và viết tiếp như Ma-ơ và Hơ-ê đi tìm ngọc, Chú bé người và ông trăng, Ngựa thần từ đâu đến, Lửa vàng, lửa trắng, Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu, Cất nhà giữa hồ, Bê và...
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu tập trung vào văn học thiếu nhi Việt Nam giai đoạn hiện đại, đặc biệt là các sáng tác từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đến giai đoạn hòa bình lập lại, nở rộ từ sau năm 1975 và trong thời kỳ Đổi mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm vấn đề chính:

Nghiên cứu quốc tế về truyện cổ tích của nhà văn

  • Lý luận thể loại và định danh thuật ngữ: Jens Tismar với hai công trình Kunstmärchen (1977) và Das deutsche Kunstmärchen des zwanzigsten Jahrhunderts (1981) đã xây dựng hệ thống tiêu chí phân biệt truyện cổ tích của nhà văn với truyện cổ tích dân gian. Richard M. Dorson (1950, 1969, 1976) đưa ra khái niệm "fakelore" (nhại văn học dân gian) trong cuốn Folklore and Fakelore: Essays toward a Discipline of Folk Studies. Alan Dundes (1985) xem xét lại hiện tượng fakelore trong các sáng tác của anh em nhà Grimm hay sử thi Kalevala.
  • Lịch sử phát triển và thi pháp: Jason Marc Harris khảo cứu sự biến đổi chất liệu dân gian trong văn học kỳ ảo Anh thế kỷ XIX qua Folklore and the Fantastic in Nineteenth-Century British Literature. Jan M. Ziolkowski khảo sát tiền thân cổ tích thời trung cổ qua Fairy Tales from before Fairy Tales. Graham Anderson tìm hiểu cổ tích trong thế giới cổ đại qua Fairy Tale in the Ancient World. Jack Zipes tổng hợp lịch sử thể loại ở châu Âu và Bắc Mỹ qua The Oxford Companion to Fairy Tales (2000, tái bản 2014). Hilda Ellis Davidson và Anna Chaudhri biên soạn A Companion to the Fairy Tale. Cristina Bacchilega nghiên cứu biến thể truyện kể qua Calvino's Journey: Modern Transformations of Folklore, Story and Myth. John T. khảo sát ảnh hưởng folklore trong văn học Mỹ.
  • Các nghiên cứu đều xác nhận việc mô phỏng, tiếp biến truyện dân gian đã hình thành một dòng chảy lớn với những tên tuổi như Giambattista Basile, Charles Perrault, anh em Grimm, Hans Christian Andersen, Alexander Pushkin, Lev Tolstoy.

Nghiên cứu tại Việt Nam về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết

  • Các công trình nền tảng của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong Văn học dân gian Việt Nam, Chu Xuân Diên trong Nhà văn và sáng tác dân gian, Lê Kinh Khiên với Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết (1989), Đặng Văn Lung, Hà Công Tài, Trần Đức Ngôn đều nhấn mạnh văn học dân gian là cội nguồn của văn học dân tộc.
  • Võ Quang Trọng trong công trình Vai trò của văn học dân gian trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (1997) và bài báo trên Tạp chí Văn hóa dân gian (số 2/1995) đã phân định ranh giới giữa truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích văn học, chỉ ra hiện tượng nhà văn mượn cốt truyện, kiểu dạng dân gian để truyền tải nội dung hiện đại.
  • Vũ Ngọc Khánh với bài Truyện cổ tích trong phát triển (1995) đưa ra định nghĩa về cổ tích của nhà văn và nhận định các tác giả dùng cổ tích như "cái đinh để treo bức tranh" tư tưởng của mình.
  • Lã Thị Bắc Lý trong Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975 (1997) và Giáo trình Văn học trẻ em ghi nhận sự xuất hiện của thể loại cổ tích hiện đại, đánh giá Phạm Hổ là người tiên phong thử nghiệm viết truyện sự tích mới.
  • Lê Tiến Dũng (2004) cảnh báo nguy cơ làm mất giá trị văn hóa cổ xưa nếu hiện đại hóa nhân vật một cách cơ học. Bùi Thanh Truyền (2009) nghiên cứu sự tiếp biến dân gian sau năm 1986. Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Trâm (2003) khảo sát dấu ấn văn học dân gian trong văn xuôi sau 1945.

Nghiên cứu riêng về Tô Hoài và Phạm Hổ

  • Về Tô Hoài: Phan Cự Đệ (1977) phân tích tiểu thuyết Đảo hoang, nhấn mạnh sự kết hợp giữa huyền thoại và hiện thực. Văn Hồng (1985) xem xét chất hiện thực và huyền thoại trong Chuyện nỏ thần. Hà Minh Đức (1987) khẳng định tính dân tộc sâu sắc trong sáng tác Tô Hoài. Vũ Quần Phương (1994) ghi nhận khả năng phục dựng không khí cổ xưa của tác giả. Nguyễn Thanh Tâm (2009) nghiên cứu sự chuyển dịch từ truyện cổ tích đến tập 101 truyện ngày xưa. Nguyễn Ngọc Hồi khảo sát đặc điểm nhân vật trong luận văn thạc sĩ về 101 truyện ngày xưa.
  • Về Phạm Hổ: Lê Nhật Ký công bố hai bài viết chuyên sâu khẳng định lối đi riêng của tác giả qua tập Chuyện hoa chuyện quả và loại hình truyện "viết tiếp" như Ngựa thần từ đâu đến, Lửa vàng, lửa trắng, Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu. Lã Thị Bắc Lý đánh giá cao khả năng mở rộng đề tài cổ tích mới phục vụ độc giả nhỏ tuổi.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có các bài viết phân tích đơn lẻ, giới nghiên cứu chưa có một chuyên luận toàn diện đặt hai trường hợp điển hình Tô Hoài và Phạm Hổ vào cấu trúc so sánh đối chiếu. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát thực chứng, hệ thống hóa các mô hình cấu trúc thể loại, nhận diện các con đường tiếp cận cổ tích dân gian và so sánh thi pháp nghệ thuật của hai nhà văn để đúc kết thành bài học lịch sử - văn học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Truyện cổ tích dân gian (TCTDG): Là thể loại tự sự dân gian nảy sinh từ thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã, phản ánh bức tranh hiện thực xã hội qua lăng kính hư cấu kỳ ảo. Nhân vật trung tâm thường là người mồ côi, người lao động, người em út, người mang lốt xấu xí; cốt truyện thể hiện ước mơ về công lý, sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, giải quyết các xung đột đạo đức và giai cấp.
  • Truyện cổ tích của nhà văn: Được dịch và tiếp thu từ các khái niệm Kunstmärchen (Đức), literaturnaia skazka (Nga), hay "truyện cổ tích của văn học thành văn", "cổ tích mới". Luận án xác định đây là tác phẩm tự sự do cá nhân nhà văn sáng tạo, định hình bằng văn bản viết, sử dụng chất liệu, mô típ, kết cấu của truyện cổ dân gian nhưng khúc xạ qua thế giới quan, cảm quan nghệ thuật cá nhân và ý thức thẩm mỹ của thời đại.
  • Ba con đường tiếp cận cổ tích dân gian:
    1. Giả cổ tích, giả huyền thoại: Nhà văn mượn chi tiết kỳ ảo, huyền thoại hoặc mượn lối viết chép lại, giả lập tư liệu, lời đồn đại để tạo không khí hư thực nhằm thể hiện các vấn đề nhân sinh hiện đại (tiêu biểu như tập Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ, các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo).
    2. Truyện cổ viết lại: Tác phẩm lấy điểm tựa từ một cốt truyện hoặc kết thúc có sẵn trong dân gian, sau đó gia công tái cấu trúc, "tiểu thuyết hóa" thành tác phẩm quy mô lớn (như Tô Hoài với Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử) hoặc "viết tiếp" theo logic nhân vật (như Phạm Hổ với Ngựa thần từ đâu đến).
    3. Truyện lồng truyện: Dạng thức liên văn bản lồng ghép các lớp tự sự dân gian vào mạch truyện hiện đại, như việc Tô Hoài tích hợp các truyền thuyết Lý Ông Trọng, Mỵ Châu - Trọng Thủy, Hai Bà Trưng vào tiểu thuyết Chuyện nỏ thần.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp định tính kết hợp các kỹ thuật phân tích văn bản:

  • Phương pháp thống kê: Dùng để kiểm kê số lượng tác phẩm, phân loại hệ thống đề tài, tần suất xuất hiện của các mô típ kỳ ảo, loại hình nhân vật trong 65 truyện của Phạm Hổ và các tập truyện của Tô Hoài.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích chi tiết các lớp thi pháp (nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu cốt truyện, điểm nhìn trần thuật), sau đó tổng hợp thành các khái quát về cảm quan đời sống của từng tác giả.
  • Phương pháp so sánh: So sánh tác phẩm của nhà văn với nguyên mẫu truyện dân gian tương ứng (truyện do Nguyễn Đổng Chi sưu tập); so sánh đối chiếu liên tác giả giữa Tô Hoài và Phạm Hổ nhằm tìm ra điểm đồng nhất và khu biệt.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu phân tích gồm hai khối văn bản chính:

  1. Khối văn bản văn học dân gian: Bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi làm hệ quy chiếu đối sánh.
  2. Khối văn bản của hai tác giả nghiên cứu: Văn bản in của Tô Hoài (Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử, 101 Truyện ngày xưa) và văn bản in của Phạm Hổ (47 truyện Chuyện hoa chuyện quả, 11 truyện chim sẻ, và các truyện cổ viết lại riêng lẻ).
Tác giả Tác phẩm khảo sát chính Thể loại văn bản Phương thức tiếp cận dân gian
Tô Hoài Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử, 101 Truyện ngày xưa Tiểu thuyết, tập truyện viết lại Tiểu thuyết hóa cốt truyện; truyện lồng truyện; bổ sung chi tiết phong tục, lịch sử
Phạm Hổ Chuyện hoa chuyện quả (47 truyện), chuỗi truyện chú Sẻ con (11 truyện), Ngựa thần từ đâu đến, Lửa vàng, lửa trắng... Truyện cổ tích mới, truyện viết tiếp Giả cổ tích sự tích; viết tiếp đoạn kết truyện dân gian; sáng tạo biểu tượng mới

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng kết lịch sử vấn đề và xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Tác giả khái quát quá trình giao thoa giữa folklore và văn học viết qua các thời kỳ:

  • Tiến trình lịch sử thế giới: Từ thế kỷ XIV với Boccaccio, Chaucer, sang thế kỷ XVI–XVII với Straparola, Basile; bùng nổ ở Pháp thế kỷ XVII–XVIII với Charles Perrault, Madame d'Aulnoy, Leprince de Beaumont; lan tỏa sang Đức với Johann Musäus, anh em Grimm, Ludwig Bechstein; Đan Mạch với Hans Christian Andersen; và Nga với Alexander Pushkin, Lev Tolstoy.
  • Tiến trình lịch sử Việt Nam: Từ văn học trung đại với Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả, Thánh Tông di thảo; qua các công trình sưu tầm đầu thế kỷ XX của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Ngọc; đến giai đoạn hiện đại với Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Vũ Tú Nam, Tô Hoài, Phạm Hổ.
  • Xây dựng hệ thống lý luận: Định hình các khái niệm công cụ, phân tích bản chất của mối liên hệ giữa văn học dân gian và văn học viết (văn học dân gian cho nhiều hơn nhận), xác lập điều kiện lịch sử - xã hội thúc đẩy sự bùng nổ của truyện cổ tích nhà văn sau năm 1945 và giai đoạn Đổi mới. Phân định rõ ba con đường tiếp cận: giả cổ tích/huyền thoại, truyện cổ viết lại, truyện lồng truyện.

Chương 2. Truyện cổ tích của nhà văn Tô Hoài

Chương 2 phân tích chuyên sâu các sáng tác của Tô Hoài dựa trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật:

1. Yếu tố cổ tích trên phương diện nội dung

  • Cảm quan về con người: Tô Hoài kế thừa tinh thần nhân đạo của truyện dân gian nhưng từ bỏ lối xây dựng "vai chính hoàn toàn" mang tính lý tưởng hóa tuyệt đối. Nhân vật của ông là con người bình thường, đa chiều, có đời sống tâm lý phức tạp, có thói quen sinh hoạt đời thường và mang tính cách cá nhân hóa. Trong Đảo hoang, Mai An Tiêm và con trai Mon hiện lên với sức mạnh của ý chí lao động, đấu tranh chinh phục tự nhiên để sinh tồn chứ không thụ động chờ phép màu của thần linh.
  • Cảm quan về xã hội: Tác giả mở rộng bối cảnh xã hội của truyện cổ tích thành bức tranh lịch sử - phong tục sống động. Bối cảnh không còn trừu tượng "ngày xửa ngày xưa" mà gắn với các giai đoạn dựng nước, giữ nước (thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Hai Bà Trưng). Xung đột xã hội không chỉ là xung đột đạo đức cá nhân thiện - ác mà được đặt trong quy mô xung đột cộng đồng, mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với tầng lớp thống trị và họa ngoại xâm.
  • Cảm quan về loài vật và thiên nhiên: Thiên nhiên và loài vật trong sáng tác Tô Hoài được miêu tả gắn liền với sự quan sát thực tế tinh tế. Thiên nhiên hoang dã nơi hải đảo hay đầm lầy sông Hồng hiện lên khắc nghiệt, đòi hỏi con người phải lao động kiên trì. Thế giới loài vật vừa mang tính chất ngụ ngôn, nhân cách hóa của cổ tích, vừa mang đặc tính sinh học sinh động của đời sống thực.

2. Yếu tố cổ tích trên phương diện nghệ thuật

  • Yếu tố kỳ ảo: Tô Hoài thực hiện quá trình "hợp lý hóa" hoặc "hiện thực hóa" yếu tố kỳ diệu của cổ tích. Các chi tiết hoang đường được giải thích qua góc nhìn hiện thực lịch sử hoặc đặt trong cảm nhận tâm lý của nhân vật. Yếu tố thần kỳ giảm dần tính chất quyết định số phận, nhường chỗ cho hành động thực tế của con người.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian được cụ thể hóa với các địa danh, phong thổ xác thực (núi Sóc, sông Đáy, bãi Tự Nhiên, Loa Thành, biển đảo). Thời gian không còn phiếm chỉ mà được liên kết với trục thời gian lịch sử của dân tộc, tạo nên chất sử thi cho các tác phẩm tiểu thuyết hóa truyện cổ.

Chương 3. Truyện cổ tích của nhà văn Phạm Hổ

Chương 3 khảo sát thực tế sáng tác của Phạm Hổ, tập trung vào tập Chuyện hoa chuyện quả và các truyện cổ viết tiếp:

1. Yếu tố cổ tích trên phương diện nội dung

  • Cảm quan về con người, thế giới tình cảm, xã hội: Con người trong truyện Phạm Hổ được soi chiếu dưới lăng kính đạo đức nhân ái, tình cảm gia đình, tình bạn bè và lòng thủy chung. Tác giả đi tìm vẻ đẹp tiềm ẩn của các mối quan hệ xã hội, nhấn mạnh sự hy sinh, vị tha. Nhân vật thường hóa thân thành hoa, quả, loài cây để lưu giữ một phẩm chất tốt đẹp cho đời.
  • Cảm quan về loài vật: Phạm Hổ miêu tả loài vật bằng cái nhìn trìu mến, ngây thơ phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo và nhi đồng. Chuỗi truyện 11 bài về chú Sẻ con thể hiện sự trưởng thành từng bước của trẻ nhỏ qua các bài học giao tiếp, ứng xử hằng ngày.
  • Cảm quan về thiên nhiên: Thiên nhiên trong tác phẩm là cỏ cây, hoa trái của làng quê Việt Nam. Phạm Hổ cắt nghĩa nguồn gốc hình dáng, màu sắc, hương vị của từng loài cây không chỉ bằng trí tưởng tượng dân gian mà bằng cảm quan thẩm mỹ hiện đại, khơi gợi tình yêu thiên nhiên đất nước cho thiếu nhi.

2. Yếu tố cổ tích trên phương diện nghệ thuật

  • Yếu tố kỳ ảo: Tác giả triệt để sử dụng thủ pháp biến hóa, hóa thân của truyện dân gian. Mô típ nhân vật qua đời rồi hóa thành các loài hoa, quả quen thuộc (hoa sen, quả thị, dừa...) được tái hiện nhằm bất tử hóa những giá trị tinh thần tốt đẹp, đem lại cảm giác nhẹ nhàng, giàu chất thơ.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian mang đậm màu sắc cổ tích truyền thống, thanh bình, êm đềm, gắn liền với vườn cây, ngõ xóm, đồng ruộng. Thời gian là thời gian chu kỳ của tự nhiên (mùa đơm hoa, kết trái) hòa quyện với thời gian hoài niệm cổ tích, tạo nhịp điệu kể chuyện thủ thỉ, tâm tình.

Chương 4. So sánh truyện cổ tích của nhà văn Tô Hoài và truyện cổ tích của nhà văn Phạm Hổ

Chương 4 tổng hợp, phân tích đối sánh toàn diện hai tác giả trên các trục nội dung và nghệ thuật:

1. So sánh trên phương diện nội dung

  • Những nét tương đồng: Cả hai tác giả đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của thế giới quan nhân đạo dân gian; đều hướng ngòi bút về độc giả thiếu nhi nhằm giáo dục nhân cách; đều ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động và tình yêu quê hương xứ sở.
  • Những nét khác biệt:
    • Cảm quan con người: Tô Hoài tiếp cận con người ở tính cách hành động, nghị lực sinh tồn, con người mang tính lịch sử và xã hội cụ thể. Phạm Hổ tiếp cận con người ở phương diện nội tâm tình cảm, sự hướng thiện, tính đạo đức thuần khiết và đức hy sinh.
    • Cảm quan xã hội: Tô Hoài chú trọng đến các xung đột mang tính thời đại, cộng đồng, các bức tranh sinh hoạt thế sự rộng lớn. Phạm Hổ tập trung vào không gian đạo đức gia đình, mối quan hệ cá nhân với cá nhân, tránh né các xung đột giai cấp gay gắt.
    • Cảm quan thiên nhiên và loài vật: Tô Hoài dựng nên thiên nhiên hùng vĩ, khắc nghiệt mang tính thử thách; loài vật đa dạng, có cá tính mạnh. Phạm Hổ xây dựng thiên nhiên êm dịu, đầy hương sắc; loài vật ngộ nghĩnh, non nớt, mang tâm lý trẻ thơ.

2. So sánh trên phương diện nghệ thuật

  • Nhân vật: Tô Hoài xây dựng nhân vật có ngoại hình, hành vi, ngôn ngữ cá tính hóa cao, được đặt trong tiến trình phát triển tính cách. Phạm Hổ xây dựng nhân vật thiên về loại hình biểu tượng đạo đức, phẩm chất, có tính chất ước lệ của cổ tích.
  • Yếu tố kỳ ảo: Tô Hoài "giải huyền thoại", tiết chế kỳ ảo, đẩy chi tiết lạ về phía hiện thực và tâm lý. Phạm Hổ duy trì và phát huy tính chất huyền ảo, biến hóa để tạo nên sự tích thi vị.
  • Không gian và thời gian: Tô Hoài sử dụng không gian địa lý - lịch sử xác định, thời gian tuyến tính lịch sử. Phạm Hổ ưa chuộng không gian phiếm chỉ mang tính biểu trưng (khu vườn, làng quê), thời gian ngưng đọng, tuần hoàn.
  • Cốt truyện: Tô Hoài nghiêng về hình thức tiểu thuyết hóa, cốt truyện mở rộng với nhiều biến cố, nhiều tuyến sự kiện phức hợp (truyện lồng truyện). Phạm Hổ trung thành với hình thức truyện ngắn sự tích, kết cấu cô đọng, diễn tiến đơn tuyến, thường kết thúc bằng sự chuyển hóa hình thể để giải thích một hiện tượng tự nhiên.
Tiêu chí so sánh Truyện cổ tích của Tô Hoài Truyện cổ tích của Phạm Hổ
Khuynh hướng thể loại Tiểu thuyết hóa cốt truyện dân gian; truyện phiêu lưu, lịch sử Truyện cổ tích mới (cổ tích hiện đại); truyện sự tích các loài hoa quả; truyện viết tiếp
Quy mô tác phẩm Quy mô lớn (tiểu thuyết dài chương, trường thiên) Quy mô nhỏ (truyện ngắn, đoản văn súc tích)
Cảm quan con người Con người hành động, vượt qua hoàn cảnh, đa chiều tâm lý Con người tình nghĩa, vị tha, giàu đức hy sinh
Xử lý yếu tố kỳ ảo Giảm thiểu hoang đường, duy lý hóa, giải huyền thoại Tận dụng tối đa biến hóa kỳ ảo, huyền thoại hóa cái đời thường
Không gian nghệ thuật Địa lý xác thực, gắn liền với phong tục, lịch sử dân tộc Không gian ước lệ, mang tính biểu tượng (vườn cây, làng xóm)
Phương thức cốt truyện Phức hợp, nhiều tầng bậc, lồng ghép nhiều truyền thuyết Đơn tuyến, tập trung vào một hình tượng/kết truyện để viết tiếp

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển của thể loại truyện cổ tích của nhà văn từ góc nhìn đối sánh quốc tế và tiến trình văn học dân tộc, phân định các thuật ngữ liên quan (Kunstmärchen, cổ tích mới, giả cổ tích, truyện cổ viết lại).
  2. Xác lập ba con đường tiếp cận cổ tích dân gian của văn xuôi hiện đại: giả cổ tích/giả huyền thoại, truyện cổ viết lại và truyện lồng truyện; chỉ ra cơ chế chuyển hóa từ tư duy tập thể dân gian sang tư duy nghệ thuật cá nhân của nhà văn.
  3. Làm sáng tỏ quy luật tương tác hai chiều giữa văn học dân gian và văn học viết: văn học dân gian cung cấp chất liệu và khuôn mẫu thi pháp, còn văn học viết hiện đại hóa nội dung, bổ sung tâm lý học và ý thức thời đại để nối dài sức sống của di sản dân gian.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp cái nhìn toàn diện, chuyên sâu và có căn cứ tư liệu xác thực về mảng sáng tác tiếp biến truyện cổ dân gian của Tô Hoài và Phạm Hổ – hai tác giả trung tâm của văn học thiếu nhi Việt Nam.
  2. Chứng minh sự đa dạng trong phong cách cá nhân khi xử lý cùng một nguồn chất liệu dân gian: Tô Hoài đại diện cho xu hướng tiểu thuyết hóa, hiện thực hóa và gắn kết lịch sử - phong tục; Phạm Hổ đại diện cho xu hướng thơ mộng hóa, tạo lập cổ tích sự tích mới và viết tiếp kết thúc truyện cổ.
  3. Khẳng định giá trị nghệ thuật của mảng truyện viết lại đối với việc bồi dưỡng tâm hồn thế hệ trẻ, cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá thành tựu văn học thiếu nhi thời kỳ sau 1945 và Đổi mới.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần đưa các tác phẩm truyện cổ viết lại tiêu biểu của Tô Hoài và Phạm Hổ vào chương trình giảng dạy ngữ văn các cấp một cách có hệ thống, giúp học sinh nhận diện sự kế thừa và phát triển của văn học dân tộc.
  • Khuyến khích các nhà nghiên cứu và người sáng tác tiếp tục khai thác kho tàng văn hóa dân gian theo hướng tiếp biến hiện đại, tránh hai khuynh hướng cực đoan: sao chép nguyên xi công thức cũ hoặc hiện đại hóa thô bạo làm biến dạng tinh thần nhân văn của truyện dân gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn ngữ liệu khảo sát ở hai tác giả Tô Hoài và Phạm Hổ, chủ yếu tập trung vào các tác phẩm viết cho thiếu nhi. Do đó, các biểu hiện tiếp biến cổ tích ở các mảng đề tài người lớn, hoặc ở các tác giả có phong cách giải huyền thoại quyết liệt khác (như Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang, Lê Minh Hà, Võ Thị Hảo) chưa được khảo sát sâu ở các chương thực nghiệm mà chỉ dừng lại ở phần điểm luận tổng quan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát hiện tượng cổ tích của nhà văn ở các thế hệ tác giả sau Đổi mới và đương đại.
    • Nghiên cứu so sánh loại hình truyện cổ tích viết lại của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á có cùng nền tảng văn hóa dân gian tương đồng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học có thể sử dụng khung lý thuyết và phương pháp phân tích thi pháp so sánh trong luận án để triển khai các đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại.
  • Giảng viên, giáo viên Ngữ văn: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú, các bảng phân loại và luận điểm rõ ràng để biên soạn bài giảng về văn học thiếu nhi, tác gia Tô Hoài, tác gia Phạm Hổ, hoặc các chuyên đề về tiếp biến văn hóa dân gian trong nhà trường phổ thông và đại học.
  • Các nhà văn, người sáng tác: Luận án chỉ ra các phương thức sáng tạo (tiểu thuyết hóa, viết tiếp, giả cổ tích), giúp các tác giả trẻ tìm kiếm kinh nghiệm xử lý chất liệu cổ xưa để xây dựng các tác phẩm mới phù hợp với tâm lý tiếp nhận của độc giả đương đại.
  • Các phần đáng tham khảo nhất:
    • Mục phân tích ba con đường tiếp cận cổ tích dân gian tại Chương 1.
    • Các bảng so sánh đối chiếu thi pháp nghệ thuật giữa Tô Hoài và Phạm Hổ tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định có mấy con đường tiếp cận truyện cổ tích dân gian của các nhà văn hiện đại?

Văn bản luận án phân chia thành ba con đường cơ bản:

  • Giả cổ tích, giả huyền thoại: Mượn chi tiết kỳ ảo, mượn lối viết chép lại, lập gia phả hư cấu để tạo không khí hư thực (như cách viết của Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Phạm Hổ).
  • Truyện cổ viết lại: Dựa trên một cốt truyện hoặc kết thúc có sẵn trong dân gian để tái tạo thành tác phẩm mới, có thể tiểu thuyết hóa quy mô lớn (Tô Hoài) hoặc viết tiếp số phận nhân vật (Phạm Hổ).
  • Truyện lồng truyện: Trích dẫn, cài cắm các đoạn tự sự dân gian vào cấu trúc tác phẩm hiện đại theo các đường dây sự kiện phức hợp (như Nguyễn Xuân Khánh trong Mẫu Thượng ngàn, Tô Hoài trong Chuyện nỏ thần).

2. Sự khác biệt cốt lõi trong cảm quan về con người giữa Tô Hoài và Phạm Hổ là gì?

Tô Hoài xây dựng con người đời thường, đa chiều, có cá tính riêng biệt, tâm lý phức tạp và từ bỏ lối lý tưởng hóa tuyệt đối; con người trong tác phẩm của ông mang đậm tính hành động, nỗ lực lao động và đấu tranh sinh tồn trước thiên nhiên khắc nghiệt. Ngược lại, Phạm Hổ xây dựng con người thiên về thế giới nội tâm tình cảm, giàu lòng nhân ái, vị tha, đức hy sinh và sự hướng thiện; nhân vật của ông thường là biểu tượng đạo đức trong sáng, phù hợp với tâm lý cảm thụ của trẻ thơ.

3. Tác giả Tô Hoài đã xử lý yếu tố kỳ ảo trong các truyện cổ viết lại như thế nào?

Tô Hoài thực hiện việc "hiện thực hóa" và "hợp lý hóa" các yếu tố hoang đường. Ông đặt các chi tiết kỳ ảo vào cách nhìn nhận lịch sử hoặc lý giải qua trạng thái tâm lý, cảm xúc của nhân vật trong bối cảnh xã hội cụ thể. Yếu tố thần kỳ không còn can thiệp mang tính chất cứu vãn định đoạt số phận như trong truyện cổ dân gian, mà đóng vai trò tạo màu sắc huyền thoại cho bức tranh lịch sử và phong tục.

4. Thuật ngữ "fakelore" được ai đề xướng và được luận án đề cập nhằm mục đích gì?

Khái niệm "fakelore" (nhại văn học dân gian) được nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Mỹ Richard M. Dorson đề xướng từ năm 1950, dùng để chỉ các sáng tác không nguyên bản nhưng được trình bày như thể văn bản folklore truyền thống. Luận án trích dẫn khái niệm này cùng các nghiên cứu của Alan Dundes để điểm lại lịch sử tranh luận học thuật quốc tế về ranh giới giữa sáng tác dân gian đích thực và sự mô phỏng, cải biên văn học của các tác giả thành văn.

5. Phạm vi khảo sát tác phẩm của Phạm Hổ trong luận án bao gồm những ngữ liệu nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 65 truyện của Phạm Hổ, bao gồm:

  • Chuỗi truyện về những chú Sẻ con (11 truyện).
  • Tập Chuyện hoa chuyện quả (47 truyện).
  • Các tác phẩm truyện cổ viết lại và viết tiếp: Ma-ơ và Hơ-ê đi tìm ngọc, Chú bé người và ông trăng, Ngựa thần từ đâu đến, Lửa vàng, lửa trắng, Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu, Cất nhà giữa hồ, Bê và...

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Huyền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, làm sáng tỏ cơ chế vận động và biến đổi của truyện cổ tích dân gian khi đi vào văn học viết qua trường hợp hai tác gia Tô Hoài và Phạm Hổ. Bằng việc phân tích cấu trúc thi pháp và tiến trình thể loại, luận án khẳng định văn xuôi thiếu nhi hiện đại vừa bảo lưu các giá trị nhân văn truyền thống, vừa hiện đại hóa cốt truyện bằng ý thức cá nhân và cảm quan lịch sử mới. Kết quả nghiên cứu không chỉ định vị chính xác đóng góp văn học của Tô Hoài và Phạm Hổ, mà còn cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc tiếp cận mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết tại Việt Nam.