phần mở đầu, quyển 1 điều chỉnh các vấn đề tư pháp quốc tế liên quan đến công dân, tài sản, bao gồm cả vấn đề hôn nhân gia đình, vấn đề thừa kế; quyển 2 điều chỉnh các vấn đề xung đôt về luật thương mại; quyển 3 về luật hình sự; quyển 4 về tố tụng quốc tế. Ngoài ra, còn những điều ước quốc tế nhiều bên và hai bên điều chỉnh từng nhóm quan hệ cụ thể thuộc phạm vi tư pháp quốc tế đã được các nước kí kết và đã có hiệu lực. Luật quốc gia Tuy điều ước quốc tế được kí kết rất nhiều, song không thể điều chỉnh hết được các quan hệ thuộc phạm vi tư pháp quốc tế. Do đó, luật pháp của các nước cho phép chọn luật quốc gia để áp dụng cho những quan hệ chưa được điều ước quốc tế điều chỉnh hoặc điều chỉnh không đầy đủ.
Khi các bên đương sự chọn luật của một nước nào đó thì luật quốc gia đó trở thành nguồn luật của tư pháp quốc tế. Mặt khác, trong luật quốc gia của các nước đều có những quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự v.v… có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: các quy phạm điều chỉnh địa vị pháp lí của người nước ngoài, vấn đề thừa kế của người nước ngoài v.v… Khi nói luật quốc gia là nguồn cũa tư pháp quốc tế không có nghĩa là toàn bộ hệ thống luật quốc gia đều được áp dụng, mà chỉ áp dụng những ngành luật nào có liên quan, tức là những ngành luật điều chỉnh mối quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự… cụ thể: Dân luật, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng dân sự… là các ngành luật quốc gia, đồng thời cũng là nguồn luật của tư pháp quốc tế. Ví dụ: khi các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa, quốc tế chọn luật nước người bán để áp dụng cho hợp đồng thì phải áp dụng ngành luật nào của nước nước người bán có liên quan đến hợp đồng mua bán, tức là phải áp dụng Luật Thương mại (nếu có) hoặc Dân luật của nước người bán đó.
Mặt khác, khi áp dụng luật quốc gia để điều chỉnh các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế thì phải áp dụng cả văn kiện luật của quốc gia đó (bao gồm các điều khoản có liên quan của hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Hiện nay, theo quan điểm chung thì luật quốc gia là nguồn quan trọng nhất của tư pháp quốc tế, vì điều ước quốc tế được kí kết nhiều những không phải tất cả các nước đều kí hoặc gia nhập và các điều ước này không điều chỉnh hết các mối quan hệ phát sinh giữa công dân và pháp nhân của các nước với nhau. Mặt khác, trong thực tế, luật quốc gia vẫn được áp dụng một cách phổ biến để điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình v.v… có yếu tố nước ngoài. Khi điều ước quốc tế và luật quốc gia của nước kí kết có các quy định khác nhau về cùng một mối quan hệ pháp luật cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế thì sẽ áp dụng nguồn luật nào.
Nhìn chung theo luật pháp của các nước thì trong trường hợp này sẽ áp dụng quy phạm của điều ước quốc tế. Luật quốc gia của các nước – nguồn của tư pháp quốc tế được ban hành bằng những văn kiện luật khác nhau. Nhiều nước có Bộ luật Tư pháp quốc tế riêng. Ví dụ: Ba Lan có Bộ luật Tư pháp quốc tế năm 1965 điều chỉnh các quan hệ dân sự, lao động, hôn nhân gia đình.
Các quan hệ về tố tụng dân sự quốc tế thì được điều chỉnh trong Bộ luật Tố tụng Ba Lan năm 1964. Ở đa số các nước chưa có đạo luật riêng về tư pháp quốc tế thì có các bộ luật liên quan. Ví dụ: ở Nhật Bản có Bộ luật Dân sự năm 1898 sửa đổi năm 2000, Bộ luật Thương mại năm 1899; ở Pháp có Bộ luật Dân sự năm 1804 (gọi là Bộ luật Napoléon) đến nay vẫn còn hiệu lực. Đây là Bộ luật Dân sự hoàn chỉnh đầu tiên ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Bộ luật Napoléon được nước Bỉ áp dụng giống như Bộ luật Dân sự của nước mình. Ngoài ra, Bộ luật Napoléon còn là kiểu mẫu cho nhiều Bộ luật Dân sự của các nước khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Argentina v.v… Ở Việt Nam, các văn bản luật sau đây là nguồn của tư pháp quốc tế. Luật Quốc tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1998, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Đầu tư năm 2005, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 v. Tập quán quốc tế Tập quán quốc tế là một trong những nguồn luật của tư pháp quốc tế, vì khi điều ước quốc tế cũng như trong luật quốc gia không có quy định việc giải quyết một mối quan hệ cụ thể thuộc phạm vi tư pháp quốc tế thì tập quán quốc tế sẽ áp dụng để giải quyết mối quan hệ đó.
Tập quán là một thói quen được lặp đi, lặp lại nhiều lần, được đa số các nước công nhận và áp dụng một cách liên tục, rộng rãi đến mức trở thành một quy tắc pháp lí mà mỗi người phải tuân theo nếu như không có quy định gì khác. Trong đời sống quốc tế có rất nhiều thói quen nhưng không phải thói quen nào cũng được coi là tập quán quốc tế. Muốn được công nhận là tập quán quốc tế, thói quen phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: Một là, thói quen phổ biến được lặp đi, lặp lại nhiều lần, được nhiều nước áp dụng và áp dụng liên tục. Hai là, đó là thói quen duy nhất tức là về một lĩnh vực cụ thể chỉ có một thói quen được áp dụng rộng rãi, liên tục mà thôi.
Ba là, thói quen phải có nội dung rõ ràng, nghĩa là khi áp dụng người ta có thể dựa vào đó để điều chỉnh mối quan hệ, hoặc giải quyết được tranh chấp. Các loại tập quán quốc tế Thông thường tập quán quốc tế được chia thành tập quán quốc tế có tính chất nguyên tắc và tập quán quốc tế cụ thể. Tập quán quốc tế có tính chất nguyên tắc là những tập quán cơ bản, bao trùm, được hình thành trên cơ sở nguyên tắc chủ quyền quốc gia và bình đẳng giữa các dân tộc. Ví dụ: tòa án nước nào thì dùng luật tố tụng của nước đó để điều chỉnh các vấn đề của một vụ kiện hoặc là tập quán theo “Luật quốc tịch”- công dân hay pháp nhân mang quốc tịch nước nào thì địa vị pháp lí được xác nhận theo luật nước đó v.v… Tập quán quốc tế cụ thể là những tập quán quốc tế về từng lĩnh vực riêng biệt mà thông dụng nhất là tập quán thương mại quốc tế, ví dụ: các điều kiện cơ sở giao hàng do Phòng Thương mại quốc tế ban hành – Incoterms 1953/1980/1990/2000, những quy tắc Yook – Antwers năm 1974 về tổn thất chung v.v… Ngoài tập quán quốc tế còn có tập quán địa phương.
Tập quán địa phương là tập quán được áp dụng ở một khu vực, một nước hay một cảng nhất định. Ví dụ: ở Thụy Sĩ có tập quán FOB cảng đến (FOB Shipment to Destination). Theo tập quán này, ngoài các nghĩa vụ như quy định theo FOB Incoterms 1990, người bán còn có nghĩa vụ thuê tàu cho người mua, cước phí do người mua chịu. Giá trị pháp lí của tập quán quốc tế.
Hiện tại có các quan điểm khác nhau về giá trị pháp lí của tập quán quốc tế. Các nước tư bản chủ nghĩa coi tập quán quốc tế là nguồn luật đương nhiên của tư pháp quốc tế, tức có giá trị pháp lí như những quy phạm của các văn kiện luật. Khi một tập quán quốc tế được hình thành thì tòa án tư sản có thể áp dụng nó để giải quyết tranh chấp, không cần phải có sự công nhận của nhà nước tư sản. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tập quán quốc tế chỉ có thể được coi là nguồn của tư pháp quốc tế khi mà nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhân tập quán đó.
Nhà nước công nhân tập quán bằng các hình thức khác nhau, hoặc là ghi nhận trực tiếp tập quán trong các văn kiện luật quốc gia hay trong các văn kiện luật quốc tế, hoặc là áp dụng tập quán trong thực tế. Tuy có các quan điểm khác nhau, song nhìn chung tập quán quốc tế chỉ có giá trị pháp lí giống như những quy phạm pháp luật tùy ý. Tập quán sẽ được áp dụng khi điều ước quốc tế, luật quốc gia không có các quy phạm điều chỉnh mối quan hệ cụ thể thuộc phạm vi tư pháp quốc tế. Cách áp dụng tập quán.
Tập quán quốc tế và tập quán địa phương sẽ được áp dụng trong các trường hợp; khi được quy định trong các điều ước quốc tế, khi được quy định trong hợp đồng; khi trong hợp đồng, trong điều ước quốc tế, trong luật quốc gia được đem áp dụng cho các hợp đồng không có quy định về nguồn luật nào được sử dụng để điều chỉnh. Khi trong hợp đồng quy định áp dụng tập quán mà không ghi cụ thể là tập quán quốc tế hay tập quán địa phương thì sẽ áp dụng tập quán quốc tế. Ví dụ: trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định điều kiện FOB (Free on board – giao lên tàu) thì phải áp dụng FOB Incoterms 1990. Nếu có tập quán chung cho một số mặt hàng và tập quán riêng cho một mặt hàng cụ thể thì sẽ áp dụng tập quán riêng.
Khi áp dụng tập quán thì cần phải chứng minh nội dung của tập quán đó. Trước hết nghĩa vụ chứng minh nội dung tập quán thuộc về các bên đương sự. Nội dung của tập quán có thể lấy trong các văn bản của phòng thương mại, trong sách báo, trong các bản án v.v… tòa án hay trọng tài có quyền quyết định sử dụng bằng chứng về nội dung của tập quán do các bên đưa ra hay không. Ngoài ba nguồn luật, các nước tư bản chủ nghĩa coi thực tiễn cũng như pháp thuyết (học thuyết pháp luật) là nguồn của pháp luật nói chung cũng như của tư pháp quốc tế nói riêng.
Theo khoa học pháp lí xã hội chủ nghĩa, thực tiễn tư pháp, pháp thuyết không thể là nguồn của tư pháp quốc tế, tức không có giá trị pháp lí giống như các quy phạm pháp luật vì tòa án chỉ là cơ quan giải thích và áp dụng luật, chứ không phải cơ quan ban hành luật.