CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tổng quan về ngành du lịch Việt Nam 1. Tiềm năng phát triển du lịch ở Việt Nam Đất nước Việt Nam tươi đẹp, điều kiện tự nhiên và bề dày lịch sử văn hoá phong phú, đa dạng và hấp dẫn. Con người Việt Nam cần cù, thông minh, hiếu khách và có đôi bàn tay khéo léo.
Đó là những vốn quý mà nhiều nước có ngành Du lịch phát triển mong muốn có được. Tài nguyên du lịch Việt Nam có thể ví như vỉa ngọc trai quý giá trải dài từ Nam ra Bắc với gần 3000 km bờ biển vẫn chưa được khai thác triệt để. Trên bản đồ Đông Nam Á, Việt Nam nằm ở vị trí mặt tiền của một điểm buôn bán sầm uất nhất, gần các đường hàng không quốc tế hết sức thuận tiện. Về điều kiện tự nhiên Bờ biển: Bờ biển Việt Nam kéo dài hơn 3200 m với nhiều cảnh quan phong phú, đa dạng là một tiềm năng rất có giá trị cho u lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí, tập trung chủ yếu ở miền Trung.
Địa hình karst: Địa hình Karst thường tạo nên các điểm du lịch hấp dẫn. Có hơn 200 hang động karst rất đa dạng và có độ karst hoá khác nhau cần được quan tâm khai thác cho ngành Du lịch. Khí hậu: Cả nước nói chung không ở nơi nào có khí hậu quá nóng không thích nghi được với cuộc sống con người. Khí hậu có sự phân hoá rõ rệt theo vĩ tuyến, theo mùa và theo độ cao ảnh hưởng đến tổ chức du lịch.
Trở ngại chính ảnh hưởng đến hoạt động du lịch là bão trên các vùng biển, duyên hải và hải đảo. Gió mùa đông bắc trong mùa đông ở phía Bắc, gió bụi trong mùa khô và lũ lụt trong mùa mưa ở phía Nam. 7 Sinh vật: Rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng. Diện tích của rừng Việt Nam chủ yếu tập trung ở 3 vùng: Bắc Trung Bộ: gần 1,7 triệu ha Duyên hải miền trung: gần 1,7 triệu ha Tây Nguyên: 3,3 triệu ha.
Nước khoáng: Nguồn nước khoáng phong phú ở Việt Nam có ý nghĩa rất lớn và trực tiếp đối với việc phát triển du lịch. Cho đến nay đã phát hiện ra được hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên và những lỗ khoan nước nhiệt độ từ 270C đến 1050C. Thành phần hoá học của nước khoáng rất đa dạng, từ cacbonat đến natri với độ khoáng hoá 33,66g/lít. Trong thành phần của nước khoáng, hàm lượng các vi nguyên tố khá cao: Brôm 64,04mg/lit, Iôt 19,04mg/lit, Sắt 373mg/lít, Bo 256mg/lit, SiO2 488mg/lit.
rất có giá trị đối với việc chữa bệnh. Đây là nguồn tài nguyên quý giá cho du lịch điều dưỡng, trị bệnh. Về điều kiện nhân văn Các di tích văn hoá lịch sử: di tích văn hoá lịch sử là tài nguyên quan trọng hàng đầu của du lịch. Cho đến hết năm 2007, toàn quốc đã có hơn 1000 di tích được nhà nước chính thức xếp hạng, trong đó có di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, đô thị cổ Hội An và thắng cảnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng vào danh mục các di sản văn hoá của nhân loại.
Các lễ hội: hấp dẫn khách du lịch không kém gì các di tích văn hoá - lịch sử. Các lễ hội thường gắn với sinh hoạt văn hoá dân gian như hát đối đáp, múa xoè, ném còn, lễ đâm trâu, hát trường ca thần thoại. Văn hoá dân tộc: Là một đối tượng hấp dẫn của hoạt động du lịch. Việt Nam có 54 dân tộc, với nhiều ngành nghề cổ truyền, nhiều kỹ năng độc đáo và các hoạt động văn hoá - văn nghệ đặc sắc, đa dạng.
8 Văn hoá - nghệ thuật: Là quốc gia có tiềm năng lâu đời về văn hoá nghệ thuật, Việt Nam có một nền kiến trúc có giá trị, được bố cục theo thuyết phong thuỷ của triết học phương Đông và có một nền nghệ thuật truyền thống dân gian phát triển như nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và đặc biệt là nghệ thuật ẩm thực dân tộc Việt Nam. Về nguồn nhân lực Việt Nam là một nước có dân số trẻ. Lực lượng này là nguồn cung cấp lao động chính thúc đẩy sự phát triển của ngành Du lịch nước nhà. Người dân Việt Nam cần cù, ham học hỏi và có đôi bàn tay khéo léo đã làm ra những sản vật độc đáo hấp dẫn khách du lịch.
Đội ngũ lao động trong ngành Du lịch đã tăng lên đáng kể trong những năm qua. Đó chính là những lợi thế lớn để phát triển du lịch. Du lịch là ngành phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố con người so với các ngành kinh tế khác. Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành đòi hỏi những yêu cầu cao và khắt khe.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với chiến lược đào tạo được hoạch định theo những bước đi thích hợp để từng bước nâng cao chất lượng, đưa đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch đi vào ổn định, chắc chắn chúng ta sẽ phát huy và tận dụng được tiềm năng to lớn này để đạt được những mục tiêu chủ yếu đã đặt ra 1. Thực trạng ngành du lịch Việt Nam những năm gần đây 1. Kết quả đạt được những năm gần đây Nhận thức được vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và việc đánh giá đúng các tiềm năng để phát triển du lịch, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã đưa ra những chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của ngành du lịch. Trong thời gian qua du lịch Việt Nam đã có những thành tựu và những tiến bộ vững chắc.
9 Thu hút và phục vụ các thị trường khách du lịch Trong suốt hơn hai thập kỷ qua, số lượng khách quốc tế đến du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh với tốc độ trung bình trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 (-8%) và suy thoái kinh tế thế giới 2009 (-11%). Nếu lấy dấu mốc lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam 1990 (khởi đầu thời kỳ đổi mới) với 250.000 lượt khách quốc tế thì đến nay với 7,57 triệu lượt năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng trên 30 lần trong 23 năm và tăng gấp 2 lần sau 4 năm phục hồi khủng hoảng năm 2009. Khách du lịch nội địa cũng tăng mạnh liên tục trong suốt giai đoạn vừa qua, từ 1 triệu lượt năm 1990 đến 2013 đạt con số 35 triệu lượt. Sự tăng trưởng không ngừng về khách đã thúc đẩy mở rộng quy mô hoạt động của ngành du lịch trên mọi lĩnh vực.
Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực và trên thế giới không ngừng tăng lên. Từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á, 1,7% thị phần khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,2% thị phần toàn cầu vào năm 1995 đến 2013 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu. Vị trí của Du lịch Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trên bản đồ du lịch thế giới. Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút mạnh dòng khách du lịch.
Trong cơ cấu thị trường nguồn của du lịch Việt Nam, 72% đến từ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tiếp theo là Châu Âu (14%) và Bắc Mỹ (7%). Các thị trường nguồn lớn nhất của Việt Nam thuộc các nước có GDP lớn nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga), thuộc các nước có dân số lớn nhất thế giới (Trung Quốc, Mỹ, Nga và Nhật Bản), thuộc các nước có tổng chi tiêu du lịch ra nước ngoài nhiều nhất thế giới (Trung Quốc, Đức, Mỹ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Úc). Cơ cấu nguồn khách trên cho thấy điểm đến du lịch Việt Nam đã được các thị trường lớn quan tâm và 10 đang trong quá trình tìm chỗ đứng và khẳng định vị trí tại các thị trường quan trọng này. Gia tăng nhanh tổng thu từ du lịch và đóng góp vào GDP Sự đóng góp của du lịch vào nền kinh tế nước ta giai đoạn vừa qua rất đáng khích lệ.
Tổng thu trực tiếp từ khách du lịch năm 2013 đạt 200 nghìn tỷ đồng (tương đương 9,7 tỷ USD), chiếm khoảng 6% GDP. Tăng trưởng về tổng thu từ du lịch nhanh hơn tăng trưởng về số lượng khách, tăng trung bình hơn 2 con số (đạt bình quân 18,7%/năm). Đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Kết cầu hạ tầng nói chung và hạ tầng du lịch nói riêng đã được cải thiện đáng kể, hệ thống giao thông đường không, thủy, bộ. liên tục được đầu tư mở rộng, nâng cấp; hệ thống hạ tầng năng lượng, thông tin, viễn thông và hạ tầng kinh tế-xã hội khác đổi mới căn bản, phục vụ đắc lực cho du lịch tăng trưởng.
Đến nay cả nước có 8 cảng hàng không quốc tế, trong đó sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất với công suất sử dụng cao; hệ thống cảng biển nhà ga, bến xe đang từng bước cải thiện nâng cấp đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay có trên 14.200 cơ sở lưu trú với 320.000 buồng lưu trú, trong đó số buồng khách sạn 3-5 sao đạt 21%; trên 1.250 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa; các cơ cở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thể thao, hội nghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo nâng cấp phục vụ khách du lịch ở hầu hết các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch. Đặc biệt, trong năm 2015 với sự ra đời của hàng loạt cơ sở lưu trú (khách sạn và tổ hợp resort) cao cấp 4-5 sao với quy mô lớn như: Grand Plaza Hà Nội, Novotel, Havana, Intercontinental, The Grand Hồ Tràm Strip, Mường Thanh, Mariott, Laguna. đã góp phần làm cho diện mạo ngành du lịch Việt Nam thay đổi căn bản với những tín hiệu tích cực.
11 Sự lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, khách sạn, vận chuyển và các khu du lịch, tổ hợp dịch vụ đã hình thành và khẳng định quy mô và năng lực cung cấp dịch vụ của ngành du lịch. Đặc biệt là vai trò của các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần và liên doanh đã tạo ra sức năng động của ngành Du lịch.