Quản lý hoạt động tự chủ tài chính tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương

Phân tích toàn diện hoạt động tự chủ tài chính tại Viện Huyết học – Truyền máu TW. Đánh giá thực trạng, kết quả và định hướng giải pháp đến 2030.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án Thạc sĩ

2024

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Ý nghĩa của Tự Chủ Tài Chính Viện Huyết Học

Tự chủ tài chính là một chủ trương quan trọng của Chính phủ Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là các cơ sở y tế. Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, là một đơn vị sự nghiệp y tế công lập, cần phải thực hiện tự chủ toàn diện về tổ chức, nhân lực, tài chính và hoạt động. Mục tiêu chính của tự chủ tài chính Viện Huyết học là tăng cường quản lý hiệu quả nguồn lực, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo bền vững tài chính dài hạn và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị huyết học. Thực hiện tự chủ tài chính không chỉ giúp Viện Huyết học giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước mà còn tạo cơ chế động lực để phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm Tự Chủ Tài Chính trong Các Đơn Vị Sự Nghiệp Y Tế

Tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập bao gồm ba nội dung chính: tự chủ về thu (quyền quyết định mục tiêu thu, giá dịch vụ), tự chủ về chi (quyền xác định cơ cấu chi tiêu, tiền lương) và tự chủ về xác định kết quả hoạt động. Đối với Viện Huyết học, tự chủ tài chính có nghĩa là Viện được phép tự quyết định chiến lược phát triển dịch vụ, định giá dịch vụ, quản lý chi phí hoạt độngphân phối lợi nhuận theo quy định pháp luật.

1.2. Ý Nghĩa Thực Tiễn của Tự Chủ Tài Chính Viện Huyết Học

Thực hiện tự chủ tài chính Viện Huyết học giúp tăng hiệu quả quản lý tài chính, cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao đức tính chuyên môn, và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này thúc đẩy đổi mới tư duy quản lý, khuyến khích sáng tạo trong công tác chẩn đoán và điều trị, đồng thời bảo đảm bền vững tài chính và phát triển dài hạn của Viện.

II. Thực Trạng Tự Chủ Tài Chính Viện Huyết Học Giai Đoạn 2019 2023

Trong giai đoạn 2019-2023, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã triển khai tự chủ tài chính theo định hướng của Chính phủ. Tuy nhiên, kết quả thực hiện tự chủ tài chính Viện Huyết học cho thấy còn nhiều thách thức và hạn chế. Về mặt tự chủ về thu, Viện gặp khó khăn trong tăng nguồn thu từ dịch vụ do nhu cầu thị trường hạn chế. Về tự chủ về chi, Viện vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước để đảm bảo chi trả tiền lương, tiền công cho cán bộ nhân viên. Cơ sở vật chất kỹ thuật cũ, thiết bị y tế lạc hậu làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng caotính cạnh tranh của Viện trên thị trường.

2.1. Kết Quả Thực Hiện Tự Chủ Về Thu

Tự chủ về thu của Viện Huyết học giai đoạn 2019-2023 cho thấy mức tăng trưởng hạn chế. Nguồn thu từ dịch vụ y tế chiếm tỷ lệ không đủ để bao phủ chi phí hoạt động. Nguyên nhân chính bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, khó khăn trong tiếp thị dịch vụ, và giá dịch vụ được quản lý chặt chẽ. Điều này cho thấy cần có chiến lược tăng thu hiệu quả hơn.

2.2. Tình Hình Tiền Lương Và Cơ Sở Vật Chất Kỹ Thuật

Tự chủ tài chính tại Viện Huyết học bị ảnh hưởng bởi chi phí tiền lương caolương cán bộ nhân viên vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Cơ sở vật chất, công nghệ của Viện còn lạc hậu, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và khả năng tạo ra lợi nhuận từ hoạt động.

III. Phương Hướng Phát Triển Tự Chủ Tài Chính Đến Năm 2030

Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã xác định mục tiêu phát triển đến năm 2030 với tự chủ tài chính làm nền tảng. Định hướng hoạt động của Viện tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ huyết học, mở rộng dịch vụ trong nước và quốc tế, đầu tư công nghệ hiện đại, và xây dựng bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế. Để đạt được tự chủ tài chính toàn diện, Viện cần thực hiện quản lý toàn diện bao gồm tổ chức bộ máy hiệu quả, phát triển nhân lực chất lượng cao, quản lý tài chính khoa học, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, và tăng cường hợp tác quốc tế. Những giải pháp này sẽ giúp Viện đạt tự chủ tài chính bền vững.

3.1. Mục Tiêu Phát Triển Và Định Hướng Hoạt Động

Mục tiêu phát triển của Viện Huyết học đến 2030 bao gồm mở rộng dịch vụ chẩn đoán huyết học, nâng cao tỷ lệ bệnh nhân ngoại trú, tăng trưởng doanh thu từ dịch vụ, và giảm phụ thuộc ngân sách. Định hướng hoạt động nhấn mạnh cải thiện chất lượng, phát triển công nghệ mới, xây dựng hình ảnh bệnh viện hiện đại, và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường y tế.

3.2. Giải Pháp Quản Lý Tự Chủ Toàn Diện

Giải pháp quản lý tự chủ toàn diện bao gồm cơ cấu lại tổ chức bộ máy cho hiệu quả cao hơn, tuyển dụng và đào tạo nhân lực chất lượng cao, áp dụng kế toán quản lý hiện đại, đầu tư nâng cấp công nghệ, xây dựng cơ chế thù lao khuyến khích, và tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp thu kinh nghiệm quản lý bệnh viện tiên tiến.

IV. Kiến Nghị Chính Sách Và Đổi Mới Quản Lý

Để bảo đảm tự chủ tài chính Viện Huyết học hoạt động hiệu quả và bền vững, cần phải có các chính sách hỗ trợ từ Nhà nướcđổi mới tư duy quản lý. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tạo điều kiện pháp lý cho bệnh viện công lập thực hiện tự chủ toàn diện, đặc biệt là tự chủ về định giá dịch vụ, tự chủ về chi trả lương, và tự chủ về đầu tư. Cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu suất dựa trên kết quả hoạt động, chất lượng dịch vụ, và hiệu quả tài chính. Đồng thời, Viện Huyết học cần đổi mới cơ chế quản lý nội bộ, tăng cường công khai minh bạch, nâng cao năng lực lãnh đạo, và xây dựng văn hóa quản lý chuyên nghiệp để thực hiện tự chủ tài chính toàn diện một cách hiệu quả.

4.1. Kiến Nghị Đề Xuất Với Các Cơ Quan Nhà Nước

Cần ban hành các chính sách cụ thể cho phép bệnh viện công lập thực hiện tự chủ trong xác định giá dịch vụ, quản lý chi tiêu linh hoạt hơn, và tuyển dụng nhân lực theo nhu cầu. Nhà nước nên dỡ bỏ các rào cản pháp lý không cần thiết, cung cấp các khoản vốn lập vốn cho nâng cấp cơ sở vật chất, và xây dựng chế độ thú lao khuyến khích hiệu quả hoạt động.

4.2. Đổi Mới Tư Duy Quản Lý Tự Chủ Toàn Diện

Đổi mới tư duy quản lý cần tập trung vào chuyển từ quản lý dựa trên tuân thủ sang quản lý dựa trên kết quả, **tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm, tập huấn lãnh đạo về quản lý hiện đại, và xây dựng văn hóa quản lý hướng vào khách hàng. Viện cần áp dụng các công cụ quản lý hiện đại như kế toán quản lý, quản lý rủi ro, cân bằng chỉ tiêu để nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Quản lý hoạt động tự chủ tài chính tại viện huyết học truyền máu trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1. Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp công lập 1.Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập “Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo,.” ĐVSN công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập ĐVSN của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương. - Được Chính phủ cung cấp tài sản, kinh phí để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ NN quy định.

- Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ NN hiện hành. - ĐVSN được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước - Thực hiện nghĩa vụ với NSNN - Được vay vốn tín dụng, huy động vốn. - Việc sử dụng, quản lý các hạng mục tài sản: Đơn vị thực hiện sử dụng nước theo quy định của pháp luật. - Khoản thu được do thanh lý tài sản, trích khấu hao thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ, trường hợp đã trả đủ nợ đơn vị được để lại bổ sung Quỹ PTHĐSN đối với số còn lại.Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, ĐVSN công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.

6 Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai, sản phẩm của các ĐVSN công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội.

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSN công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xoá mù chữ, Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, chương trình phòng chống AIDS… 1.Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSN công lập bao gồm: ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục đào tạo; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế; ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực xã hội; … Căn cứ vào chế độ sở hữu tài sản của các ĐVSN công lập và coi như công lập, các ĐVSN được phân loại để thực hiện quản lý, bao gồm: Các ĐVSN công lập của Nhà nước; Các ĐVSN của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; các ĐVSN trực thuộc các tổ chức quần chúng khác,… 7 Căn cứ vào mức TCTC, các ĐVSN được phân loại như sau: Mức TCTC của ĐVSN công phản ánh mức tự bảo đảm chi phí đầu tư từ nguồn thu HĐSN của đơn vị và chi thường xuyên.

Mức tự bảo đảm Tổng số thu sự nghiệp chi hoạt động = Tổng số chi hoạt động X 100% thường xuyên của thường xuyên ĐVSN (%) Tổng số thu sự nghiệp là dự toán thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên là dự toán chi thường xuyên năm của ĐVSN. Căn cứ vào mức TCTC, ĐVSN công được phân loại thành bốn loại hình đơn vị: - Loại 1 là ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, các đơn vị này phải bảo đảm các điều kiện sau: (i) Có mức tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên lớn hơn 100%; (ii) Có tổng số thu phí được để lại để chi không thường xuyên theo quy định và mức dự kiến trích quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp trong năm bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản trang thiết bị của đơn vị trong năm xác định mức tự chủ, hoặc có tổng có số dư kinh phí quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của năm trước liền kề. - Loại 2 là ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên, là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%. - Loại 3 là ĐVSN công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, là đơn vị có mức tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên ở mức từ 10% đến dưới 100%.

- Loại 4 là ĐVSN công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, là các đơn vị có mức tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên ở mức dưới 10% hoặc không có nguồn thu sự nghiệp. Tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập 8 2.Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc thực hiện tự chủ tài chính 2. Khái niệm tự chủ tài chính TCTC bao gồm: các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, việc lập kế hoạch chiến lược, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của đơn vị. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng TCTC có mối quan hệ với các nguồn lực, các chi phí, sự phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính.

Trong bối cảnh của Việt Nam, chúng ta nên hiểu quyền TCTC là tính đến cả yếu tố nguồn lực và chủ thể. Bởi vì, nếu ứng dụng hai quan điểm một cách riêng lẻ thì quyền TCTC của ĐVSN công lập có thể bị thu hẹp nhiều mặt. TCTC trong ĐVSN công lập phải được hiểu là tự do hóa, giảm bớt những ràng buộc mang tính chất mệnh lệnh hành chính của bộ máy quản lý quan liêu, bao cấp; trả lại cho các ĐVSN những quyền tự nhiên mà về bản chất là của chính nó, sinh ra nó thì nó phải có được những quyền đó để tồn tại. TCTC là một trong những cơ chế tự chủ của ĐVSN công lập, được hiểu là cơ chế theo đó các ĐVSN công lập được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình trong khuôn khổ mà pháp luật quy định.

TCTC đã tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động phân bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động;… TCTC trong các ĐVSN công lập là việc các đơn vị này được quyền quyết định hoạt động tài chính của đơn vị mình. Có thể nói TCTC là yếu tố có tác động to lớn đến mọi mặt hoạt động của đơn vị, khâu cuối cùng trong tự chủ ở các ĐVSN công lập. Mức độ TCTC càng cao thì đơn vị càng có sự tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự. Mục tiêu thực hiện tự chủ tài chính Một là, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSN nhằm tạo điều kiện cho đơn vị trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động.

Hai là, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN. Ba là, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với ĐVSN, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn. Bốn là, phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với ĐVSN với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước. Nguyên tắc thực hiện tự chủ tài chính Để thực hiện được TCTC thì phải đảm bảo nguyên tắc sau: Một là, hoàn thành nhiệm vụ được giao; đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị.

Hai là, thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật. Các hoạt động tài chính của cơ quan, đơn vị phải được xây dựng thống nhất và phải được công khai các khoản mục thu, chi. Ba là, thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của 10 mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bốn là, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.Nội dung tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là quan hệ quyền hạn, lợi ích và nghĩa vụ, trách nhiệm.

Chủ thể các quan hệ này được Nhà nước trao cho ĐVSN có thu, gồm tập thể và từng thành viên của đơn vị. Tự chủ về các khoản thu, mức thu ĐVSN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Đây là nguồn thu chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn thu hàng năm của ĐVSN công lập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ