Tổng quan luận án

Bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam. Dữ liệu từ Tổng cục Thống kê (2014) cho thấy tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên tăng liên tục từ 4,7% năm 1989 lên 7,1% năm 2014. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA, 2016), tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2014 đạt 70,6 tuổi đối với nam giới và 76,0 tuổi đối với nữ giới; tuy nhiên, tuổi thọ trung bình khỏe mạnh lại thấp hơn đáng kể do gánh nặng bệnh tật mãn tính khi về già (WHO, 2018). Thực trạng này tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội và trực tiếp tác động đến lực lượng lao động chăm sóc người cao tuổi (NCT) tại gia đình.

Nhóm người chăm sóc không nhận thù lao là con cái (bao gồm con trai, con gái, con dâu, con rể) giữ vai trò chủ lực, chiếm 49% tổng số người chăm sóc NCT. Hoạt động chăm sóc là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường; kinh tế hàng hóa không thể vận hành bình thường nếu thiếu sự tồn tại của kinh tế chăm sóc (UN, 2014, 2015). Nghiên cứu của ActionAid (2016) tại Việt Nam chỉ ra rằng phụ nữ dành 314 phút và nam giới dành 190 phút mỗi ngày cho các công việc chăm sóc không lương. Người chăm sóc thuộc nhóm con cái thường xuyên phải thích nghi đồng thời với hai vai trò: lao động tạo thu nhập trên thị trường lao động và lao động chăm sóc tại gia đình.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ việc phần lớn các công trình trước đây tập trung kiểm định các khía cạnh tiêu cực của công việc chăm sóc như gánh nặng, sự căng thẳng tâm lý, kiệt sức và hao tổn tài chính. Các khía cạnh kết quả tích cực, đặc biệt là tự chủ chăm sóc (caregiver empowerment), chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng. Tự chủ chăm sóc được hiểu là việc đạt được sự kiểm soát đối với công việc chăm sóc, hiểu rõ các yếu tố môi trường xung quanh và chủ động nỗ lực để kiểm soát công việc đó. Đạt được tự chủ chăm sóc giúp người chăm sóc củng cố năng lực nội tại (self-empowerment), duy trì thể chất và tinh thần tích cực, thích ứng với áp lực liên vai trò nhằm nâng cao hiệu quả lao động.

Mục tiêu chung của luận án là đánh giá ảnh hưởng của hỗ trợ xã hội, giá trị gia đình và xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc tới kết quả tự chủ chăm sóc của người chăm sóc NCT tại các hộ gia đình ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ tự chủ chăm sóc.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản gồm:

  1. Kiểm định ảnh hưởng trực tiếp của sự hỗ trợ xã hội và giá trị gia đình tới tự chủ chăm sóc NCT tại Việt Nam.
  2. Kiểm định vai trò của xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc trong mối quan hệ giữa giá trị gia đình và tự chủ chăm sóc NCT tại Việt Nam.
  3. Kiểm định tác động của một số biến liên quan tới đặc điểm nhân khẩu học của người chăm sóc (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập hộ gia đình) và bối cảnh chăm sóc (thời gian chăm sóc, tình trạng sức khỏe của NCT) tới mức độ tự chủ chăm sóc.
  4. Kiến nghị các giải pháp cho hoạt động chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và tự chủ chăm sóc.
  • Mối quan hệ giữa giá trị gia đình và tự chủ chăm sóc.
  • Mối quan hệ giữa giá trị gia đình, xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc và tự chủ chăm sóc.

Khách thể nghiên cứu là người đang chăm sóc chính cho NCT tại gia đình, thỏa mãn các tiêu chí:

  • Là con cái của NCT (con trai, con gái, con dâu, con rể).
  • Là người chăm sóc chính cho NCT tại gia đình.
  • Chăm sóc NCT từ đủ 60 tuổi trở lên (theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12) đang phụ thuộc ít nhất một hoạt động chức năng cơ bản (ADL: ăn, tắm, vệ sinh, mặc quần áo) và ít nhất một hoạt động chức năng sinh hoạt (IADL: công việc nội trợ, di chuyển/khám bệnh, quản lý thuốc men, quản lý tiền bạc).
  • Chăm sóc duy nhất một NCT tại gia đình.
  • Hiện vẫn đang đi làm tạo thu nhập (toàn thời gian hoặc linh hoạt).

Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại ba miền Bắc, Trung, Nam ở các tỉnh/thành phố có tỷ lệ NCT chiếm từ 8% trở lên theo thống kê của UNFPA (2011), bao gồm: Hà Nội, Thái Bình (miền Bắc); Thanh Hóa, Đà Nẵng (miền Trung); Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre (miền Nam).

Phạm vi thời gian: Dữ liệu điều tra định lượng chính thức được thu thập từ tháng 12/2020 đến tháng 2/2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến trải nghiệm chăm sóc và kết quả chăm sóc:

Hướng nghiên cứu về kết quả tiêu cực của công việc chăm sóc: Các tác giả như Gordon & Rouse (2013), Han và cộng sự (2012), Pharr và cộng sự (2014), Sayegh & Knight (2011), Conde-Sala và cộng sự (2010), H. Kim và cộng sự (2012) tập trung phân tích sự căng thẳng, kiệt sức về thể chất, gánh nặng tâm lý và tổn thất tài chính mà người chăm sóc phải gánh chịu khi người thân suy giảm chức năng nhận thức hoặc vận động.

Hướng nghiên cứu về kết quả tích cực và tự chủ chăm sóc: Cohen, Colantonio và Vernich (2002) chỉ ra rằng 73% người chăm sóc gia đình nhận thấy ít nhất một kết quả tích cực từ hoạt động chăm sóc. Sakanashi & Fujita (2017) xác định các thành tố của tự chủ chăm sóc và kết quả đạt được về sự phát triển cá nhân (personal growth). Khái niệm tự chủ cá nhân và gia đình cũng được phát triển qua các công trình của Zimmerman (1990), Man (1995, 1998, 2003), Koren và cộng sự (1992), Boele và cộng sự (2012, 2013), Sahai và cộng sự (2018).

Hướng nghiên cứu về vai trò của hỗ trợ xã hội: Khái niệm hỗ trợ xã hội được phân định thành nhận thức hỗ trợ và hỗ trợ thực tế nhận được (Uchino, 2009; Wills, 1991). Các nghiên cứu trước đo lường các hình thức hỗ trợ cảm xúc, thông tin, vật chất hoặc tương tác tích cực (Sherbourne & Stewart, 1991; Zimet và cộng sự, 1988; Dunst và cộng sự, 1984; Dębska và cộng sự, 2017; Lai & Thomson, 2011). Han và cộng sự (2014) đánh giá ảnh hưởng của năm loại hỗ trợ xã hội đến việc giảm gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ. Shirai và cộng sự (2009), Plata (2006), Saxena (2013) nghiên cứu tác động của hỗ trợ xã hội tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống và tự chủ.

Hướng nghiên cứu về giá trị văn hóa và giá trị gia đình: Giá trị văn hóa ảnh hưởng trực tiếp tới nhận thức và phản ứng trước áp lực chăm sóc (Leininger, 2002; Lai, 2002). Các nghiên cứu của Sabogal và cộng sự (1987), Losada và cộng sự (2010, 2019) xác định các chiều cạnh của giá trị gia đình (familism) gồm trách nhiệm gia đình và sự gắn kết, tương trợ gia đình. Tuy nhiên, các phát hiện thực nghiệm về tác động của giá trị gia đình còn nhiều mâu thuẫn: Pharr và cộng sự (2014) ghi nhận tác động tích cực trong nghiên cứu định tính, trong khi Rozario & DeRienzis (2008), Knight và cộng sự (2002), Sayegh & Knight (2011) lại tìm thấy giá trị gia đình làm gia tăng căng thẳng tâm lý hoặc kiệt sức. Một số nghiên cứu xem xét các biến trung gian như chiến lược đối mặt (Sayegh & Knight, 2011; Parveen và cộng sự, 2013) hoặc giá trị đạo hiếu (Jones và cộng sự, 2011).

Các nghiên cứu tại Việt Nam: Trần Thị Mai và cộng sự (2020) cung cấp số liệu thực trạng cho thấy con cái chiếm 49,2% số người chăm sóc khi NCT ốm đau và 53% số người chăm sóc chính, đồng thời là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu. Trương (2015) và Đảm và cộng sự (2009) phân tích cơ sở pháp lý của nghĩa vụ chăm sóc gia đình theo Luật Người cao tuổi. Trần Thị Minh Thi (2021) phân tích các giá trị gia đình Việt Nam đương đại và cảnh báo nguy cơ suy thoái thiết chế khi việc chăm sóc biến thành gánh nặng cá nhân. Các tác giả Nguyễn Xuân Long và cộng sự (2020, 2021), Nguyễn và cộng sự (2018), Nguyen và cộng sự (2013) khảo sát thực trạng hỗ trợ xã hội đối với người chăm sóc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Thứ nhất, luận án giải quyết khoảng trống về kết quả chăm sóc tích cực bằng việc đo lường tự chủ chăm sóc theo ba thành tố (hiểu biết, thái độ, hành vi) thay vì chỉ xem xét các khía cạnh tiêu cực.
  • Thứ hai, luận án làm rõ tác động của nhận thức hỗ trợ xã hội phân theo ba nguồn lực cụ thể (từ gia đình, từ những người xung quanh, từ các tổ chức cộng đồng và Nhà nước) tới từng khía cạnh của tự chủ chăm sóc.
  • Thứ ba, luận án kiểm định cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp của giá trị gia đình đến tự chủ chăm sóc thông qua biến trung gian xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc, cung cấp bằng chứng thực nghiệm giải thích cho những mâu thuẫn chưa thống nhất trong các nghiên cứu quốc tế trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng và tích hợp các lý thuyết nền tảng sau:

  • Lý thuyết nhu cầu – nguồn lực công việc (Job Demands – Resources Model) của Demerouti và cộng sự (2001): Luận án mở rộng việc ứng dụng mô hình này từ môi trường doanh nghiệp sang khu vực lao động gia đình. Trong đó, công việc chăm sóc NCT được xem xét như một hoạt động lao động với các nhu cầu chăm sóc cụ thể; giá trị gia đình đóng vai trò nguồn lực nội tại và hỗ trợ xã hội đóng vai trò nguồn lực bên ngoài giúp thúc đẩy kết quả lao động tích cực.
  • Lý thuyết quá trình căng thẳng (Stress Process Model) của Pearlin và cộng sự (1990): Mô hình phân loại các yếu tố bối cảnh, tác nhân gây căng thẳng chính (tình trạng bệnh tật, mức độ suy giảm chức năng ADL/IADL của NCT), tác nhân gây căng thẳng thứ cấp (xung đột giữa vai trò công việc và vai trò chăm sóc), cùng các nguồn lực trung gian điều tiết (hỗ trợ xã hội, các giá trị niềm tin).
  • Lý thuyết căng thẳng nhận thức của Lazarus & Folkman (1984): Giải thích cơ chế đánh giá sơ cấp và đánh giá thứ cấp của cá nhân trước tác nhân gây áp lực và nguồn lực sẵn có để định hình hành vi thích ứng.
  • Lý thuyết chuyển đổi căng thẳng và hỗ trợ xã hội của Aranda & Knight (1997), Knight và cộng sự (2002): Khẳng định vai trò của các giá trị văn hóa sắc tộc và hỗ trợ xã hội tác động tới kết quả của quá trình chăm sóc.

Các khái niệm và thang đo sử dụng trong mô hình nghiên cứu:

  • Tự chủ chăm sóc (Caregiver Empowerment): Dựa trên khung lý thuyết của Zimmerman (1990) và thang đo Family Empowerment Scale (FES) của Koren và cộng sự (1992), đo lường theo 3 khía cạnh: Hiểu biết (nhận thức và thông tin chăm sóc), Thái độ (sự tự tin và cảm giác kiểm soát), Hành vi (những việc làm cụ thể nhằm chủ động kiểm soát việc chăm sóc).
  • Hỗ trợ xã hội: Đánh giá nhận thức về hỗ trợ xã hội dựa trên thang đo Family Support Scale (FSS) của Dunst và cộng sự (1984), đo lường 3 nguồn lực: hỗ trợ từ gia đình, hỗ trợ từ những người xung quanh (bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp), hỗ trợ từ cộng đồng và tổ chức Nhà nước.
  • Giá trị gia đình: Dựa trên khái niệm của Sabogal và cộng sự (1987) và nghiên cứu của Losada và cộng sự (2019), bao gồm 2 khía cạnh: niềm tin về trách nhiệm gia đình và niềm tin về sự gắn kết, ủng hộ gia đình.
  • Xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc: Đo lường mức độ ảnh hưởng của thời gian và áp lực công việc ngoài thị trường tới việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc gia đình (Greenhaus & Beutell, 1985; Carlson & Frone, 2003).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng qua quy trình 5 bước:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 24 người đang trực tiếp chăm sóc NCT tại ba miền Bắc, Trung, Nam và tham vấn ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc NCT tại cộng đồng vào tháng 10/2020 tại Hà Nội. Mục tiêu nhằm khám phá các khía cạnh của tự chủ chăm sóc, chuẩn hóa thang đo cho phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam.
  • Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với 50 người chăm sóc NCT tại Hà Nội vào tháng 11/2020 nhằm rà soát từ ngữ, kiểm tra tính rõ ràng của các chỉ báo.
  • Nghiên cứu định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi từ tháng 12/2020 đến tháng 2/2021 với quy mô mẫu 383 người chăm sóc NCT tại 6 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bến Tre. Danh sách đối tượng được hỗ trợ tiếp cận bởi các bác sĩ tại các bệnh viện lớn trên địa bàn khảo sát.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 14 và AMOS để kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), cùng các kiểm định Levene, Independent Samples T-Test và One-way ANOVA cho các biến kiểm soát.
Thứ tự Phương pháp Phương thức thực hiện Địa điểm & Thời gian thực hiện
1 Nghiên cứu định tính Phỏng vấn sâu (n = 24), xin ý kiến chuyên gia Tại Hà Nội, tháng 10/2020
2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ Khảo sát qua bảng hỏi (n = 50) Tại Hà Nội, tháng 11/2020
3 Nghiên cứu định lượng chính thức Khảo sát qua bảng hỏi (n = 383) Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà Nẵng, TP.HCM, Bến Tre; tháng 12/2020 - 02/2021

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 thiết lập khung tổng thể cho toàn bộ luận án. Tác giả trình bày sự cần thiết của đề tài xuất phát từ tốc độ già hóa dân số nhanh tại Việt Nam, sự suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày của NCT và vai trò không thể thay thế của lao động chăm sóc không lương từ con cái. Chương này xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (gồm 383 người chăm sóc chính đang đi làm, chăm sóc cha mẹ phụ thuộc ADL/IADL tại 6 tỉnh/thành phố đại diện 3 miền). Tác giả khái quát quy trình nghiên cứu 5 bước kết hợp định tính và định lượng, tóm tắt các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, đồng thời giới thiệu kết cấu 5 chương của luận án.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2 làm rõ hệ thống các khái niệm cốt lõi: NCT, người chăm sóc gia đình, kết quả chăm sóc tích cực và tiêu cực, tự chủ chăm sóc, hỗ trợ xã hội, giá trị gia đình và xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc. Tác giả tổng quan 4 khung lý thuyết chính: Lý thuyết căng thẳng nhận thức (Lazarus & Folkman, 1984), Lý thuyết chuyển đổi căng thẳng và hỗ trợ xã hội (Aranda & Knight, 1997), Lý thuyết quá trình căng thẳng (Pearlin và cộng sự, 1990) và Lý thuyết nhu cầu – nguồn lực công việc (Demerouti và cộng sự, 2001). Chương này rà soát các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước, phân tích các biến bối cảnh (tuổi, giới tính, học vấn, thời gian chăm sóc, tình trạng sức khỏe NCT), từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu gồm biến độc lập (hỗ trợ xã hội, giá trị gia đình), biến trung gian (xung đột công việc – chăm sóc), biến phụ thuộc (tự chủ chăm sóc) và các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế và quy trình triển khai nghiên cứu. Tác giả mô tả giai đoạn nghiên cứu định tính với tổ hợp 24 mẫu phỏng vấn sâu người chăm sóc và tham vấn chuyên gia tại Hà Nội nhằm điều chỉnh thang đo tự chủ chăm sóc (thái độ, hiểu biết, hành vi), thang đo giá trị gia đình và hỗ trợ xã hội cho tương thích với văn hóa Việt Nam. Giai đoạn định lượng sơ bộ trên 50 người chăm sóc kiểm tra độ tin cậy thang đo ban đầu qua hệ số Cronbach's Alpha. Giai đoạn định lượng chính thức mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích dựa trên danh sách hỗ trợ từ các bác sĩ bệnh viện lớn tại 6 tỉnh/thành phố, thu về 383 phiếu khảo sát hợp lệ. Chương này trình bày chi tiết bảng mã hóa các biến, các chỉ báo thang đo tình trạng sức khỏe NCT (ADL, IADL) và quy trình xử lý dữ liệu bằng EFA, CFA, SEM trên phần mềm SPSS 14 và AMOS.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 cung cấp toàn bộ các kết quả thực nghiệm của đề tài:

  • Thống kê mô tả: Phân tích thực trạng chăm sóc NCT tại gia đình, đặc điểm bối cảnh chăm sóc, tình trạng sức khỏe của NCT, mức độ nhận thức hỗ trợ xã hội và mức độ tự chủ chăm sóc của mẫu khảo sát 383 người.
  • Kiểm định thang đo: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA) cho thấy các thang đo đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; các chỉ số đánh giá độ phù hợp của mô hình tới hạn trong CFA đều thỏa mãn tiêu chuẩn thống kê.
  • Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM: Các chỉ số phản ánh mô hình đạt độ phù hợp cao với dữ liệu thực tế.
  • Kiểm định giả thuyết:
    • Hỗ trợ xã hội tác động trực tiếp, thuận chiều tới tự chủ chăm sóc. Phân tích chi tiết cho thấy hỗ trợ xã hội tác động mạnh nhất đến khía cạnh hành vi của tự chủ chăm sóc; trong các nguồn lực hỗ trợ, hỗ trợ từ những người xung quanh và hỗ trợ từ cộng đồng/tổ chức Nhà nước mang lại hiệu quả cải thiện tự chủ cao nhất, trong khi hỗ trợ từ gia đình có mức tác động thấp nhất.
    • Giá trị gia đình vừa có tác động trực tiếp thúc đẩy tự chủ chăm sóc, vừa có tác động gián tiếp thông qua biến trung gian xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc. Niềm tin giá trị gia đình mạnh giúp người chăm sóc chấp nhận trách nhiệm, giảm cảm nhận xung đột giữa công việc và chăm sóc, từ đó nâng cao mức độ tự chủ.
  • Kiểm định các biến kiểm soát: Sử dụng kiểm định Levene, phân tích sâu One-way ANOVA và Independent Samples T-Test để xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ tự chủ chăm sóc theo thời gian chăm sóc, độ tuổi của người chăm sóc, trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập hộ gia đình và tình trạng sức khỏe của NCT.

CHƯƠNG 5: BÌNH LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

Chương 5 thảo luận chuyên sâu về các phát hiện thực nghiệm trong mối tương quan với các nghiên cứu tiền nhiệm tại Việt Nam và quốc tế. Tác giả luận giải lý do hỗ trợ xã hội tác động vượt trội lên khía cạnh hành vi và vai trò nổi bật của hỗ trợ từ cộng đồng/người xung quanh so với gia đình; phân tích cơ chế giải tỏa căng thẳng của giá trị gia đình đối với xung đột liên vai trò. Trên cơ sở đó, chương đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Đối với bản thân người chăm sóc: Nâng cao năng lực tự chủ nội tại, chủ động học hỏi kiến thức y tế, kỹ năng chăm sóc và kết nối chuyên gia y tế.
  • Đối với gia đình và xã hội: Giáo dục, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa gia đình truyền thống trong thế hệ trẻ.
  • Đối với chính sách an sinh xã hội: Phát triển mạng lưới hỗ trợ chăm sóc tại cộng đồng, mở rộng các chương trình chăm sóc ban ngày, huy động sự tham gia của tình nguyện viên và nghiên cứu mô hình hỗ trợ chăm sóc có trả lương từ mạng lưới xã hội xung quanh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Ứng dụng liên ngành mô hình lý thuyết nhu cầu – nguồn lực công việc (Demerouti và cộng sự, 2001): Luận án là công trình tiên phong vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu lao động chăm sóc gia đình, xem xét giá trị gia đình và hỗ trợ xã hội như hai nguồn lực bên trong và bên ngoài hỗ trợ lao động chăm sóc.
  • Bổ sung cho lý thuyết quá trình căng thẳng của Pearlin và cộng sự (1990): Thay vì chỉ tập trung vào các kết quả tiêu cực (gánh nặng, kiệt sức), nghiên cứu chuyển hướng tiếp cận sang kết quả tích cực là sự phát triển bản thân và sức mạnh nội tại (self-empowerment) của người chăm sóc, thể hiện qua sự kiểm soát chủ động trên ba khía cạnh: thái độ, hiểu biết và hành vi.
  • Làm rõ cơ chế tác động của hỗ trợ xã hội: Luận án xác định hỗ trợ xã hội tác động thuận chiều tới tự chủ chăm sóc, trong đó khía cạnh hành vi nhận ảnh hưởng lớn nhất. Về nguồn lực, hỗ trợ từ những người xung quanh và hỗ trợ từ tổ chức cộng đồng/Nhà nước mang lại tác động thúc đẩy tự chủ lớn nhất, trong khi hỗ trợ từ gia đình ảnh hưởng thấp nhất.
  • Khám phá cơ chế trung gian của xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc: Luận án chứng minh giá trị gia đình vừa tác động trực tiếp, vừa tác động gián tiếp tới tự chủ chăm sóc thông qua việc làm giảm xung đột công việc – chăm sóc. Niềm tin giá trị gia đình giúp người lao động dung hòa hai vai trò, giảm áp lực căng thẳng thứ cấp để đạt được sự tự chủ trong chăm sóc.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Định hướng phát triển năng lực nội tại (self-empowerment) cho người chăm sóc: Người chăm sóc cần chủ động tìm hiểu kiến thức y khoa, kỹ năng chăm sóc người bệnh, thiết lập liên lạc thường xuyên với bác sĩ và nhân viên y tế để nâng cao hiểu biết và tự tin xử lý các tình huống chăm sóc.
  • Duy trì và phát huy nền tảng giá trị gia đình: Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc định hướng giáo dục thế hệ trẻ về lòng hiếu thảo, tinh thần gắn kết gia đình và trách nhiệm chăm sóc người lớn tuổi, giúp người chăm sóc chuyển hóa nghĩa vụ thành động lực tâm lý bền vững.
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội tại cộng đồng: Chính sách an sinh xã hội cần tập trung hỗ trợ vào mạng lưới những người xung quanh (đồng nghiệp, hàng xóm, tổ chức xã hội); tham khảo kinh nghiệm triển khai các mô hình chăm sóc có trả lương tại cộng đồng cho những người hỗ trợ NCT bị suy giảm chức năng sinh hoạt hàng ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khách thể giới hạn trong nhóm con cái (con trai, con gái, con dâu, con rể) hiện đang đi làm và chăm sóc duy nhất một NCT phụ thuộc chức năng ADL/IADL, chưa mở rộng sang các đối tượng chăm sóc khác như vợ/chồng hoặc người chăm sóc không tham gia thị trường lao động.
  • Dữ liệu thu thập theo phương pháp cắt ngang trong khoảng thời gian 3 tháng (từ tháng 12/2020 đến tháng 2/2021), chưa phản ánh được sự biến động của mức độ tự chủ chăm sóc và gánh nặng chăm sóc theo tiến trình thời gian dài hạn.
  • Địa bàn khảo sát tập trung tại 6 tỉnh/thành phố có tỷ lệ NCT cao (từ 8% trở lên), chưa bao quát toàn bộ các vùng nông thôn sâu hoặc miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Phương thức tiếp cận mẫu dựa trên sự giới thiệu của bác sĩ tại các bệnh viện lớn có thể làm hạn chế tính đại diện ngẫu nhiên tuyệt đối của mẫu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đối tượng người chăm sóc khác (vợ chồng, anh chị em, người chăm sóc toàn thời gian không đi làm) và các bối cảnh chăm sóc nhiều hơn một NCT trong hộ gia đình.
  • Thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) để theo dõi sự biến đổi của tự chủ chăm sóc theo từng giai đoạn tiến triển bệnh tật của NCT và sự tích lũy kinh nghiệm của người chăm sóc.
  • Mở rộng địa bàn điều tra sang các khu vực nông thôn, miền núi; đánh giá sâu hơn tác động của các can thiệp chính sách an sinh xã hội cụ thể tại địa phương đối với việc nâng cao tự chủ chăm sóc.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học:

  • Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Kinh tế lao động, Quản trị nhân lực, Xã hội học và Công tác xã hội.
  • Giá trị tham khảo nổi bật nằm ở Chương 3 và Chương 4: quy trình triển khai phương pháp hỗn hợp (mixed methods), quy trình chuẩn hóa thang đo tự chủ chăm sóc (FES) và hỗ trợ xã hội (FSS) phù hợp với bối cảnh Việt Nam, cùng kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và kiểm định biến trung gian bằng phần mềm AMOS.

Giảng viên và nhà nghiên cứu:

  • Tài liệu cung cấp góc nhìn lý thuyết mới khi mở rộng Lý thuyết nhu cầu – nguồn lực công việc (Demerouti và cộng sự, 2001) sang phân tích lao động gia đình và kinh tế chăm sóc không thù lao.
  • Cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú về các lý thuyết căng thẳng, tâm lý học chăm sóc và già hóa dân số.

Nhà hoạch định chính sách và tổ chức xã hội:

  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Người cao tuổi Việt Nam và các cơ quan an sinh xã hội trong việc xây dựng Luật Người cao tuổi sửa đổi, hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội.
  • Định hướng xây dựng các chương trình chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng, tập trung vào việc hỗ trợ mạng lưới xung quanh và đào tạo kỹ năng cho người chăm sóc tại hộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khái niệm tự chủ chăm sóc (Caregiver Empowerment) trong luận án được hiểu và đo lường như thế nào? Trả lời: Tự chủ chăm sóc được hiểu là việc người chăm sóc đạt được sự kiểm soát đối với công việc chăm sóc, hiểu được các yếu tố môi trường xung quanh liên quan tới công việc chăm sóc và chủ động nỗ lực để đạt được sự kiểm soát đó. Dựa trên khung lý thuyết của Zimmerman (1990) và thang đo của Koren và cộng sự (1992), tự chủ chăm sóc được đo lường qua 3 khía cạnh: Hiểu biết (kiến thức, thông tin cần thiết), Thái độ (sự tự tin, kiểm soát tinh thần) và Hành vi (hành động cụ thể nhằm làm chủ công việc chăm sóc).

  2. Khách thể nghiên cứu của luận án phải đáp ứng những tiêu chí cụ thể nào? Trả lời: Khách thể nghiên cứu là người chăm sóc chính, là con cái (con trai, con gái, con dâu, con rể) đang chăm sóc duy nhất một NCT từ đủ 60 tuổi trở lên tại gia đình; NCT này phải đang bị phụ thuộc ít nhất một hoạt động chức năng cơ bản (ADL: ăn, tắm, vệ sinh, mặc quần áo) và ít nhất một hoạt động chức năng sinh hoạt (IADL: nội trợ, đi lại/khám bệnh, quản lý thuốc, quản lý tiền bạc); đồng thời người chăm sóc vẫn đang đi làm tạo thu nhập trên thị trường lao động.

  3. Kích thước mẫu khảo sát chính thức là bao nhiêu và được thu thập tại những địa phương nào? Trả lời: Mẫu khảo sát định lượng chính thức gồm 383 người chăm sóc NCT tại gia đình đáp ứng đầy đủ tiêu chí chọn mẫu. Dữ liệu được thu thập tại 6 tỉnh/thành phố có tỷ lệ NCT từ 8% trở lên đại diện cho ba miền: Hà Nội, Thái Bình (miền Bắc); Thanh Hóa, Đà Nẵng (miền Trung); Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre (miền Nam) trong thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 2/2021.

  4. Nguồn hỗ trợ xã hội nào có ảnh hưởng lớn nhất và thấp nhất tới mức độ tự chủ chăm sóc? Trả lời: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy hỗ trợ từ những người xung quanh (bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp) và hỗ trợ từ cộng đồng, tổ chức Nhà nước là hai nhóm nguồn lực có tác động cải thiện mức độ tự chủ chăm sóc lớn nhất; trong khi đó, nhóm hỗ trợ từ gia đình lại có mức độ tác động thấp nhất tới tự chủ chăm sóc của người chăm sóc NCT.

  5. Giá trị gia đình tác động đến tự chủ chăm sóc qua cơ chế nào? Trả lời: Giá trị gia đình vừa có tác động trực tiếp thúc đẩy tự chủ chăm sóc, vừa có tác động gián tiếp thông qua biến trung gian xung đột vai trò công việc – vai trò chăm sóc. Niềm tin giá trị gia đình cao đóng vai trò như động lực giúp người chăm sóc chấp nhận nghĩa vụ, giảm bớt căng thẳng do xung đột giữa công việc ngoài xã hội và việc chăm sóc tại nhà, từ đó giúp họ tự tin và kiểm soát công việc chăm sóc tốt hơn.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Mai Phương đã làm rõ thực trạng và cơ chế tác động của giá trị gia đình cùng sự hỗ trợ xã hội tới kết quả tự chủ chăm sóc của nhóm lao động con cái đang chăm sóc cha mẹ già tại Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phỏng vấn định tính và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trên mẫu khảo sát 383 người tại 6 tỉnh/thành phố, nghiên cứu đã khẳng định vai trò quyết định của nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng/người xung quanh và giá trị gia đình trong việc giải tỏa xung đột liên vai trò để nâng cao năng lực tự chủ chăm sóc. Các kết quả thực nghiệm đóng góp cơ sở lý luận quan trọng cho ngành Kinh tế lao động và gợi mở nhiều hàm ý thực tiễn có giá trị trong việc xây dựng hệ thống chính sách an sinh xã hội thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam.