phần Mở đầu và Kết luận. Phần Nội dung gồm ba chƣơng: Phần Nội dung Chƣơng 1: Vùng đất, con ngƣời xứ Lạng với sự hình thành, tồn tại và lƣu truyền của truyền thuyết dân gian Chƣơng 2: Đặc điểm truyền thuyết về núi non xứ Lạng Chƣơng 3: Truyền thuyết về núi non xứ lạng trong đời sống văn hóa xã hội đƣơng đại tại Lạng Sơn Phụ lục: Phần này của luận văn bao gồm hệ thống các truyền thuyết đã đƣợc sƣu tầm và sƣu tầm thêm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 14 Chƣơng 1 VÙNG ĐẤT, CON NGƢỜI XỨ LẠNG VỚI SỰ HÌNH THÀNH, TỒN TẠI VÀ LƢU TRUYỀN CỦA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào tất cả các vấn đề thuộc điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị cũng nhƣ xã hội của xứ Lạng mà chỉ đi vào tìm hiểu những yếu tố có tác động đến sự hình thành và lƣu truyền truyền thuyết dân gian nơi đây, đặc biệt là mảng truyền thuyết về núi non. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu chúng tôi tập trung vào hai phƣơng diện cụ thể: Vùng đất, con ngƣời và văn hoá văn học dân gian xứ Lạng.
Đặc biệt chúng tôi còn đi sâu vào tìm hiểu các khía cạnh về điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc ngƣời và văn hoá văn học dân gian của cộng đồng các dân tộc cƣ trú trên địa bàn - đây chính là những yếu tố có tác động sâu sắc đến đối tƣợng nghiên cứu. Vùng đất, con ngƣời xứ Lạng Quá trình nảy sinh, tồn tại và phát triển của văn học dân gian nói chung và truyền thuyết dân gian nói riêng bao giờ cũng gắn liền với điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội và tâm lý của con ngƣời. Do đó, trƣớc khi khảo sát các truyền thuyết xứ Lạng - trong đó có truyền thuyết về núi non - cần phải có những tìm hiểu về vùng đất, con ngƣời nơi đây. Khái niệm xứ Lạng Xứ Lạng là một phần lãnh thổ gắn bó từ lâu đời của Việt Nam, là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em, miền đất thân thƣơng còn vang vọng trong ca dao, dân ca lƣu truyền từ muôn đời nay.
Đó nhƣ lời mời tha thiết đối với du khách muôn phƣơng, là cách giới thiệu về xứ Lạng rất thơ, mang đậm sắc thái dân gian. Thật gần gũi nhƣng vẫn có dáng nét, cá tính riêng. Nhƣng tại sao lại gọi là xứ Lạng và xứ Lạng có từ bao giờ? Có một số tài liệu giải thích nhƣ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 15 Theo sách Cơ sở văn hoá Việt Nam: tên “xứ” là một khái từ được sử dụng khá linh hoạt trong dân gian. Có khi nó được dùng để chỉ một không gian hẹp như xứ đồng, hay một xóm nào đó.
Có khi từ này lại được dùng chỉ một không gian rộng hơn: xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc, tức là bốn xứ xung quanh kinh thành Thăng Long thời nhà Trần, nhà Lê; hoặc dùng chỉ các xứ như xứ Lạng, xứ Nghệ. Các từ này, khi thì tương đương với một trấn như cách phân chia địa giới phong kiến, nhưng có khi lại không, mà tương đương với một tỉnh… [57, tr. Dù thế nào, “xứ” vẫn là từ dùng để biểu đạt sự khác biệt giữa các vùng đất, chứng tỏ sự phân biệt trong tâm thức dân gian. Điều đáng quan tâm là khi phân biệt các xứ, ngƣời dân từ trong lịch sử đã có ý thức phân biệt sự khác nhau về văn hoá.
Tác giả Ngô Đức Thịnh, trong cuốn Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam cho rằng: Trước tiên, có thể nhận biết sắc thái riêng của xứ Lạng từ góc độ tự nhiên, con người và lịch sử. Thời Trần, Lê chính quyền phong kiến trung ương đã từng chia nước ta thành các đơn vị “trấn” và “xứ”, có lẽ bởi thế mà từ đó trong dân gian mới có các tên xứ Lạng, xứ Huế, xứ Quảng, xứ Thanh… Cũng trong dân gian, cái tên “xứ” hay “mường” có thể hiểu theo nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau. Có thể đó là một địa danh như Khâu Lừa hay hẹp hơn nữa là thành Khâu Ôn, trung tâm xưa của xứ Lạng. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu rộng ra theo cách hiểu ngày nay - xứ Lạng là Lạng Sơn, hay rộng hơn nữa theo cách phân chia đơn vị hành chính xưa, bao gồm một phần đất Bắc Giang (Lạng Giang) và phần lớn Cao Bằng.
Theo quan niệm của cha ông xưa, tiếp giáp với kinh đô Thăng Long là “tứ trấn nội kinh” (gồm Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Đông, Sơn Tây), xa hơn nữa về phía Bắc là xứ Lạng, về phía Nam là xứ Thanh, xứ Nghệ… [49, tr 113-114]. Theo các tác giả trong cuốn “Lạng Sơn nơi địa đầu tổ quốc” khi nghiên cứu về văn hóa xứ Lạng cho rằng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 16 Xứ Lạng được coi là một tiểu vùng văn hóa riêng biệt nằm trong vùng văn hóa Việt Bắc - Đông Bắc. Ngay từ “xứ Lạng” (trước chỉ tỉnh Lạng Sơn) cũng đã hàm nghĩa đây là một vùng văn hóa dân gian (FOLKLORE) và “xứ” là một từ chỉ một vùng có thể rộng mà có thể hẹp, rất hẹp và thường do dân gian gọi mà thành và “xứ” cũng thường ứng với một đơn vị hành chính nhất định mà thường gọi là một tỉnh. Từ “xứ” ngày nay chỉ để gọi trong dân gian trong văn hóa văn nghệ, nó không được coi là một đơn vị hành chính quốc gia.
Từ “xứ” gọi là một “vùng xứ” để gây một ấn tượng cảnh quan nào đó của một vùng có cái gì đó nổi bật và riêng biệt. Ngày nay vẫn có các vùng quê hương được gọi là “xứ”, trong đó có xứ Lạng, nhưng không nhiều chẳng hạn như: xứ Huế, xứ Nghệ, xứ Lạng, xứ Thanh, xứ Quảng” [5, tr. Còn trong cuốn “Ai lên xứ Lạng” của nhóm tác giả Hà Văn Thƣ, Hoàng Nam, Vi Hồng Nhân, Vƣơng Toàn thì cho rằng: Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, nhà thơ đặt câu hỏi vì sao gọi là “xứ Lạng”? “Xứ Lạng” có nghĩa là gì? Cái tên gọi xưa nay nó quen thuộc, nó gần gũi thân thương đến mức như tên gọi của chính ta, như cơm ăn nước uống và không khí thở hàng ngày. Nhưng hồ dễ mấy ai đã giải thích được một cách thấu đáo dù là người sống rất lâu ở xứ Lạng chăng nữa! Để lý giải được hai từ đó và một số vấn đề khác nữa, năm 1985, Sở văn hoá thông tin tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về xứ Lạng - Lạng Sơn.
Nhiều nhà nghiên cứu đã thử lý giải nó nhằm làm sáng tỏ nhiều vấn đề còn chưa xác định, đất nước ta có bao nhiêu vùng gọi là xứ ? xứ Quảng, xứ Huế, xứ Nghệ, xứ Thanh và xứ Lạng. Tổng hợp các nghiên cứu thì xứ Lạng theo các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thiết từ “Lạng” là một từ Hán - Việt cổ kết hợp với từ “Lũng” trong ngôn ngữ Tày, Nùng dưới dạng ngữ âm Hán - Việt cổ, theo ngữ nghĩa cổ để chỉ địa danh các điểm cư trú Tày, Nùng. Xứ Lạng là xứ sở gồm có nhiều lũng. Và như vậy, Lạng có nghĩa là “Núi Cao Đẹp” như hình dáng núi Lạng đã được miêu tả.
Xứ Lạng là xứ sở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 17 của những lũng, là xứ sở núi non hùng tráng lâu đời, mang nặng mối tình gắn bó Việ t - Tày - Nùng lịch sử, thấm sâu ngay trong bản thân địa danh [50, tr. Nhƣ vậy, có nhiều khái niệm về xứ Lạng, nhƣng dù đƣợc định nghĩa theo cách nào đi chăng nữa thì đến với nơi đây, ngay trong bản thân địa danh đã gợi cho ta biết bao điều phải khám phá về một vùng đất giàu bản sắc văn hoá. Là không gian sinh tồn cho những truyện kể, truyền thuyết dân gian mang hƣơng sắc hoa hồi, chất men say của rƣợu nồng và tình ngƣời đằm thắm. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, xứ Lạng bao gồm địa giới hành chính khác nhau, nhƣng khi nhắc đến xứ lạng, chúng ta đều có thể hiểu đó là tên gọi chỉ tỉnh Lạng Sơn ngày nay.
Do đó, cũng có thể hiểu rộng ra theo cách hiểu ngày nay – xứ Lạng là Lạng Sơn [49, tr. Từ thời Hùng Vƣơng, vùng đất này có tên gọi là Lục Hải, trải qua bao biến cố của lịch sử, tên gọi cũng đổi thay, mãi vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) mới có tên là Lạng Sơn trấn. Hai chữ “Lạng Sơn” bắt đầu có từ đây. Thời thuộc Minh gọi là Lạng Sơn phủ, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) đặt là Lạng Sơn Thừa Tuyên.
Bản đồ niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) gọi là Lạng Sơn xứ. Niên hiệu Gia Long nguyên niên (1802) để nguyên tên Trấn nhƣ trƣớc (tức Lạng Sơn trấn). Năm Minh Mạng 12 (1831) phân hạt đổi thành tỉnh Lạng Sơn. Ngày 9 tháng 9 năm 1891 đổi tên là tiểu quân khu Lạng Sơn thuộc Đạo Quan binh II; đến ngày 20 tháng 6 năm 1905 lại đổi thành tỉnh Lạng Sơn.
Đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên 1.Vị trí địa lý Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam; có đƣờng biên giới quốc gia giáp với nƣớc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lạng Sơn có tọa độ địa lý 20°27 đến 22°19 vĩ độ bắc và 106°06 đến 107°21 kinh độ đông, giáp ranh với 5 tỉnh là: Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 18 Lạng Sơn là tỉnh có diện tích tự nhiên 8.323,78 km², với dân số trên 80 nghìn ngƣời. Vị trí địa lí là một thế mạnh nổi bật của tỉnh.
Tuy là một tỉnh miền núi nhƣng độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển chỉ là 251m; nằm trọn trong lòng máng trũng, nối Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với Việt Nam và các nƣớc ASEAN. Là điểm xuất phát của trục đƣờng giao thông Bắc - Nam, nơi gặp gỡ của các quốc lộ 1A,1B, 4B chạy dọc theo biên giới Việt - Trung. Từ thƣợng nguồn sông Lục Nam và sông Thƣơng ở phía nam, con đƣờng mòn thiên lý nối liền nƣớc ta với các đế chế Trung Hoa xƣa đã đƣợc xây dựng thành đƣờng Quốc lộ 1 và đƣờng sắt từ Hà Nội nối liền xứ Lạng với trung tâm đất nƣớc. Ở phía bắc, lƣu vực sông Kỳ Cùng đổ về Quảng Tây đã mở ra cửa khẩu tự nhiên giữa Việt Nam - Trung Quốc, nối dài tuyến đƣờng sắt và đƣờng bộ giữa xứ Lạng với Bằng Tƣờng, Nam Ninh và xa hơn nữa.
Lạng Sơn có hai cửa khẩu quốc tế: Cửa khẩu đƣờng sắt Đồng Đăng và cửa khẩu đƣờng bộ Hữu Nghị.