Luận Văn Thạc Sĩ Về Truyền Thông An Toàn Thực Phẩm Trên Truyền Hình Việt Nam

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam, nêu bật thách thức và giải pháp.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

292
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Điểm mới, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết cấu của đề tài

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

1.1. Lý luận chung về truyền thông và truyền hình

1.2. Khái niệm “Truyền thông”

1.3. Mô hình truyền thông và thông điệp truyền thông

1.4. Khái niệm “Truyền hình” và đặc điểm của truyền hình

1.5. Vai trò của truyền hình trong vấn đề ATTP

1.6. Thực tiễn về ATTP ở Việt Nam hiện nay

1.7. Khái niệm “Thực phẩm” và “An toàn thực phẩm”

1.8. Những vấn đề về ATTP ở Việt Nam hiện nay

1.9. Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu truyền thông về ATTP

1.10. Tiểu kết chương 1

2. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

2.1. Khái quát về các chương trình khảo sát

2.2. Chương trình “Nói không với thực phẩm bẩn” trên VTV1

2.3. Chương trình “Chúng ta đang ăn gì?” trên VTC16

2.4. Thực trạng thông điệp truyền thông về ATTP trên truyền hình

2.5. Nội dung thông điệp truyền thông về ATTP trên kênh VTV1 và VTC16

2.6. Hình thức truyền tải nội dung thông điệp về ATTP trên truyền hình

2.7. Tiểu kết chương 2

3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN TRUYỀN HÌNH

3.1. Những vấn đề cần đặt ra khi truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình

3.2. Về nội dung

3.3. Về hình thức

3.4. Một số giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng truyền thông về ATTP trên truyền hình

3.5. Nhóm giải pháp liên quan đến nội dung thông điệp

3.6. Nhóm giải pháp liên quan đến hình thức thể hiện thông điệp

3.7. Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức sản xuất chương trình

3.8. Nhóm giải pháp đối với nhà báo

3.9. Nhóm giải pháp liên quan đến quản lý về ATTP

3.10. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Truyền Thông An Toàn Thực Phẩm Trên Truyền Hình Việt Nam

Truyền thông về an toàn thực phẩm (ATTP) trên truyền hình Việt Nam đã trở thành một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng thực phẩm. Các chương trình truyền hình không chỉ cung cấp thông tin mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề liên quan đến ATTP. Việc truyền tải thông điệp về ATTP qua truyền hình giúp người dân có cái nhìn rõ ràng hơn về thực phẩm mà họ tiêu thụ.

1.1. Khái niệm và vai trò của truyền thông về ATTP

Truyền thông về ATTP là quá trình cung cấp thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề liên quan đến thực phẩm. Vai trò của truyền thông trong việc đảm bảo ATTP là rất quan trọng, giúp người dân nhận biết được các nguy cơ tiềm ẩn từ thực phẩm không an toàn.

1.2. Lịch sử phát triển truyền thông về ATTP trên truyền hình

Truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Các chương trình như "Nói không với thực phẩm bẩn" và "Chúng ta đang ăn gì?" đã thu hút sự chú ý của công chúng và góp phần nâng cao nhận thức về ATTP.

II. Những Thách Thức Trong Truyền Thông An Toàn Thực Phẩm Trên Truyền Hình

Mặc dù truyền thông về ATTP trên truyền hình đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như thông tin sai lệch, thiếu tính chính xác và sự thiếu hụt nguồn lực trong việc sản xuất nội dung chất lượng cao là những trở ngại lớn.

2.1. Thông tin sai lệch và thiếu chính xác

Thông tin sai lệch về ATTP có thể gây hoang mang cho người tiêu dùng. Việc thiếu kiểm soát và xác thực thông tin trước khi phát sóng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và nội dung chất lượng

Nhiều chương trình truyền hình về ATTP thiếu nguồn lực để sản xuất nội dung chất lượng. Điều này dẫn đến việc thông điệp không được truyền tải một cách hiệu quả, làm giảm tác động của truyền thông đến người tiêu dùng.

III. Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Truyền Thông Về ATTP

Để nâng cao chất lượng truyền thông về ATTP trên truyền hình, cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Việc cải thiện nội dung, hình thức và tổ chức sản xuất chương trình là những yếu tố quan trọng.

3.1. Cải thiện nội dung thông điệp

Nội dung thông điệp cần được xây dựng dựa trên các nghiên cứu thực tiễn và phản ánh đúng tình trạng ATTP hiện nay. Việc sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với người dân cũng là một yếu tố quan trọng.

3.2. Tăng cường hình thức thể hiện thông điệp

Hình thức thể hiện thông điệp cần được đổi mới để thu hút sự chú ý của khán giả. Sử dụng hình ảnh, video minh họa và các phương tiện truyền thông đa dạng sẽ giúp thông điệp trở nên sinh động hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Truyền Thông Về ATTP

Các chương trình truyền thông về ATTP đã có những ứng dụng thực tiễn đáng kể trong việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng. Những kết quả từ các chương trình này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về ATTP mà còn góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến thực phẩm không an toàn.

4.1. Kết quả từ chương trình Nói không với thực phẩm bẩn

Chương trình này đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong cộng đồng, giúp người dân nhận thức rõ hơn về các nguy cơ từ thực phẩm không an toàn và khuyến khích họ lựa chọn thực phẩm an toàn hơn.

4.2. Tác động của chương trình Chúng ta đang ăn gì

Chương trình này đã cung cấp thông tin hữu ích về nguồn gốc thực phẩm và cách chế biến an toàn, từ đó giúp người tiêu dùng có những quyết định đúng đắn hơn trong việc lựa chọn thực phẩm.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Truyền Thông Về ATTP

Truyền thông về ATTP trên truyền hình Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc nâng cao chất lượng thông điệp và cải thiện hình thức truyền tải sẽ là những yếu tố quyết định cho sự thành công trong tương lai.

5.1. Tương lai của truyền thông về ATTP

Trong tương lai, truyền thông về ATTP cần được chú trọng hơn nữa, với sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức có uy tín. Điều này sẽ giúp nâng cao độ tin cậy của thông tin và tạo ra một môi trường an toàn cho người tiêu dùng.

5.2. Đề xuất giải pháp cho truyền thông hiệu quả

Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện chất lượng truyền thông về ATTP, bao gồm việc đào tạo nhân lực, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan truyền thông và các tổ chức liên quan đến ATTP.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về an toàn thực phẩm và vai trò của truyền hình trong truyền thông về an toàn thực phẩm Chương 2: Nội dung và hình thức thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao thông điệp về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1.Lý luận chung về truyền thông và truyền hình 1.Khái niệm “Truyền thông” Truyền thông theo thuật ngữ tiếng Anh là “Communication”, đây được coi là một hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người. Truyền thông thường để chỉ sự chia sẻ thông tin và giao lưu giữa người với người thông qua những hình thức nhất định. Về cụm từ “ Truyền thông” trên thế giới cũng có hơn 200 cách dịch nghĩa khác nhau.Hiện tại “Truyền thông” được hiểu theo nghĩa chung nhất là: Truyền thông là một hành vi truyền tải thông tin mang tính chất xã hội, là sự giao hoan giữa không gian của tập thể và không gian cá nhân;quá trình truyền tải thông tin, ý kiến và sự việc. Đơn giản hơn, truyền thông là quá trình do con người tạo ra, tiếp nhận và lưu trữ thông tin.

Quá trình truyền đạt, tiếp nhận, giao lưu và chia sẻ thông tin hai chiều giữa con người , tổ chức và xã hội; họ sử dụng các hình thức tuyên truyền để đưa thông tin và thực hiện hoạt động giao lưu qua lại. Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu mà các học giả đưa ra những định nghĩa về truyền thông khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm của PGS. Nguyễn Văn Dững như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm.chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội.10] Khái niệm này chỉ ra bản chất truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi thông tin một cách liên tục giữa đối tượng chủ thể truyền thông và đối tượng tiếp nhận. Hoạt động truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thông tin 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa hai đối tượng này.

Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó. Về mục đích, truyền thông hướng đến những sự hiểu biết chung nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng tiếp nhận và định hướng dư luận xã hội theo hướng phù hợp với nhu cầu của đối tượng chủ thể truyền thông và của xã hội. Nói cách khác, đối tượng chủ thể của hoạt động truyền thông khi chuyển thông điệp cho người tiếp nhận luôn mong muốn những thông tin mà mình cung cấp ảnh hưởng đến thái độ và cách xử sự của người tiếp nhận. Mô hình truyền thông và thông điệp truyền thông Một quá trình truyền thông bao gồm các yếu tố sau: Nguồn tin, thông điệp, kênh truyền và đối tượng tiếp nhận.

Rất nhiều học giả khi nghiên cứu về truyền thông đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông khác nhau. Tuy nhiên mô hình truyền thông của Harold Lasswell cùng với sự bổ sung của Claude Shannon vẫn được mọi người chấp nhận vì nó đơn giản và thông dụng. Các yếu tố của một hoạt động truyền thông được hai học giả thể hiện như sau: Hình 2. Mô hình truyền thông của Lasswell và Shannon [41, tr.18] Từ mô hình trên cho phép chúng ta nghiên cứu, đánh giá được vai trò, ý nghĩa của từng yếu tố, mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tham gia quá trình truyền thông.

Đó là điều kiện để không chỉ nhận thức mà còn tìm ra phương pháp, cách thức tác động hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo GS. Tạ Ngọc Tấn [43, tr.34], chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông truyền tải đến công chúng xã hội rộng rãi. Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng.

Nói cách khác, mục đích, quan điểm của chủ thể phát thông điệp bao giờ cũng ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông tin. Tính khuynh hướng trong nội dung thông tin được biểu hiện thông qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức, phương pháp phân tích đánh giá vấn đề và chính kiến phát biểu trực tiếp. Tuy nhiên, giới hạn của mô hình này là thể hiện hoạt động truyền thông như một quá trình tuyến tính, người tiếp nhận thông tin giống như một đối tác thụ động. Về sau, các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo mô hình truyền thông với dạng đường vòng tròn khép kín.

Cũng theo nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì quá trình truyền thông còn phải lưu ý đến các công việc cần thiết của người cung cấp, khởi xướng thông tin là mã hóa (encode) thông điệp bằng các tín hiệu của mình và người tiếp nhận muốn nhận thông điệp phải có quá trình giải mã (decode). Như vậy quá trình truyền thông sẽ được chia làm hai giai đoạn theo mô hình sau: Hình 2. Mô hình truyền thông [41, tr.20] Trong đó, Quá trình A-nguồn (source) có thể là một người, một tổ chức, một cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hóa (encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó diễn đạt nội dung thông điệp. Thông điệp (message), là những thông tin thực sự được chuyển theo một mạch truyền (kênh) này hay kênh khác đến đối tượng.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình B: Giải mã (decode), là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến. Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp. Nơi nhận (destination), người nhận (receiver) là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích lũy của người tiếp nhận. Phản hồi (feedback), là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin gốc đến nơi tiếp nhận và ngược lại.

Nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện người tiếp nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin có những thông tin thích hợp với hiện tại. Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông, là công cụ mạnh mẽ cho phép nối hai đường truyền thông lại với nhau. Nó sẽ không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị vô hiệu hóa hoặc với sự chống lại của bộ phận tiếp nhận. Một hạn chế của truyền thông là có thể xảy ra hiện tượng không phản hồi.

Đây là một chu trình khép kín của quá trình truyền thông. Ở đây cần chú ý tới các khía cạnh sau: - Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội, xác định rõ những kinh nghiệm chung giữa người khởi xướng và người tiếp nhận. - Để truyền thông đạt hiệu quả, kinh nghiệm của người khởi xướng và người tiếp nhận có giá trị đặc biệt khi tiến hành. - Thông điệp trong truyền thông phải qua các bước mã hóa, truyền đi, tiếp nhận và giải mã.

Mỗi thông điệp chuyển từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ, nên phải tìm cách tăng sức mạnh cho thông điệp. - Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi.21] 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Truyền thông (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông,. Thuật ngữ "truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latinh "Commune" với nghĩa là "chung” hay "cộng đồng”. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.5] Thông qua khái niệm cùng những mô hình truyền thông có thể thấy rằng việc đánh giá phương thức cũng như hiệu quả của một hoạt động truyền thông liên quan tới quá trình mã hóa thông điệp của nguồn phát và giải mã thông điệp của đối tượng tiếp nhận.

Để đạt được hiệu quả cuối cùng là một quy trình khép kín thì cần phải giải quyết được những yếu tố nhiễu tác động tới hoạt động truyền thông. Để làm căn cứ cho quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả hiểu truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, thông điệp, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng. Nói cách khác, truyền thông là quá trình truyền tải và phổ biến thông tin xã hội đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian và thời gian. Quá trình này được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.

Khi phân tích về truyền thông, tác giả nhận thấy có ba đặc điểm chính sau: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình – có nghĩa là nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà diễn ra trong một khoảng thời gian lớn. Quá trình này mang tính liên tục vì nó không thể kết thúc ngay khi chuyển tải một nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn sau đó. Đó là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là hai bên cho và nhận. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, truyền thông phải dẫn tới sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.

Thứ ba, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng.Khái niệm “Truyền hình” và đặc điểm của truyền hình Truyền hình (Television) là một từ ghép, trong tiếng La tinh “tele” có nghĩa là “xa”, còn “vision” nghĩa là “nhìn”. Sự kết hợp của hai từ này cho ra cụm từ “television” mang ý nghĩa: nhìn được từ xa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Truyền Thông An Toàn Thực Phẩm Trên Truyền Hình Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức truyền thông an toàn thực phẩm được thực hiện qua các kênh truyền hình tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng về an toàn thực phẩm, từ đó giúp người tiêu dùng có những quyết định đúng đắn hơn trong việc lựa chọn thực phẩm. Bên cạnh đó, tài liệu cũng chỉ ra những thách thức mà các chương trình truyền hình gặp phải trong việc truyền tải thông điệp này một cách hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu an toàn thực phẩm bếp ăn tập thể, nơi cung cấp thông tin về thực hành an toàn thực phẩm tại các trường mầm non, hoặc Trách nhiệm doanh nghiệp về an toàn vệ sinh thực phẩm, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy định pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Đánh giá kết quả mô hình vệ sinh an toàn thực phẩm đường phố, một nghiên cứu thực tiễn về an toàn thực phẩm trong môi trường đô thị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề an toàn thực phẩm trong xã hội hiện nay.