Chương 1 đã nêu được cơ sở lí luận kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại, sản xuất một cách đầy đủ, chi tiết. Chương 2 tác giả đã tập chung phân tích, mô tả bộ máy quản lí công ty, đặc biệt bộ máy bán hàng một cách ngắn gọn. Tác giả đã đưa ra các chứng từ, sổ thẻ chi tiết, sổ tổng hợp nhằm tạo thuyết phục, minh họa cho đề tài mà tác giả đã chọn. Chương 3 tác giả chỉ được ưu nhược điểm của công tác bán hàng trong công ty, và một số vướng mắc như việc xuất phiếu bán hàng chưa đúng trình tự luân chuyển chứng từ.
Các bộ phận bán hàng khi có yêu cầu về hàng hóa, sản phẩm thì sẽ liên lạc trực tiếp qua bộ phận kho để lấy, không có sự báo cáo qua các phòng ban quản lí đối với các trường hợp hàng gửi bán đại lí. Từ sự quan sát thực tế tác giả đã đưa ra đề xuất quản lí chặt chẽ hơn về quá trình luân chuyển hàng hóa, thành phẩm trong công ty giúp xây dựng công tác quản lí công tác kế toán một cách thống nhất, hiệu quả. Nhược điểm: + Các chứng từ, hóa đơn, các phiếu thu, phiếu chi nên được đưa xuống phần phụ lục. 12 + Phần hệ thống sơ đồ, bảng biểu chưa được khoa học và cụ thể.
+ Tài liệu, dẫn chứng phần thực trạng chưa được phong phú và tính thuyết phục thấp.10 Khóa luận: “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí của Công ty Cổ phần nội thất miền Bắc” (năm 2019) của tác giả Đỗ Nhật Anh trường đại học Thương Mại. Bố cục khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại. Chương 2: Khái quát chung và thực trạng hạch toán kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần nội thất miền Bắc. Chương 3: Một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Công ty Cổ phần nội thất miền Bắc.
Ưu điểm: - Đầy đủ kết cấu của một bài khóa luận, trình bày chi tiết, dễ hiểu - Nội dung: + Chương 1: Tác giả trình bày được những lí luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. + Chương 2: tác giả đã phân tích về các điểm mạnh của công ty đang dạng mặt hàng nên cần phải quản lí tốt về hàng hóa giúp cho nhà quản lí có một cái nhìn rộng và tổng quan hơn về các chiến lược mới cho các mặt hàng. Tác giả đã đề cập một cách chính xác thực trạng doanh thu, chi phí thông qua các bảng biểu. + Chương 3: tác giả đã đề xuất có thể quản lí tốt về doanh thu, chi phí, bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập chung, rất gọn nhẹ nhưng vẫn hoạt động hiệu quả, đáp ứng được khối lượng công việc tương đối nhiều.
Bộ máy kế toán thực hiện đúng theo chế độ kế toán hiện hành, vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách kế toán đầy đủ, tuân theo đúng những quy định mà Bộ tài chính ban hành. Nhược điểm: tác giả phụ thuộc nhiều về trình bày chứng từ, thao tác kế toán trên phần mềm kế toán nên trong bài viết gặp một số vướng mắc như tổ chức lưu trữ chứng từ kế toán. Các chứng từ phát sinh trong tháng sắp xếp còn lộn xộn, không theo trình tự ghi sổ. Phần nhận xét còn hời hợt, chưa sát chủ đề.
13 Nhận xét chung: - Các bài khóa luận đã nêu được những lí luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. - Đánh giá được thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty thực tập. - Đưa ra các giải pháo nhằm hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty - Có một vài hạn chế: + Các sổ sách thực tế có ít. + Phần thực trạng một số tác giả chưa nghiên cứu cụ thể.
+ Các biện pháp đưa ra chung chung, không chi tiết. + Còn tồn tại lỗi sai chính tả, căn chỉnh chưa hợp lí. + Không cập nhật số liệu, sử dụng số liệu đã cũ, không phản ánh được tình hình thực tế về đề tài nghiên cứu. Tóm lại: Qua việc nghiên cứu, tìm hiều các khóa luận có chung đề tài, em đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm để có thể thực hiện tốt bài khóa luận này.
Việc nhận ra và phát huy một số ưu điểm thông qua tìm hiều các đề tài trước đó là việc làm cần thiết đối với mỗi tác giả khi làm về đề tài của mình. Đầu tiên khi bắt đầu nghiên cứu về đề tài của mình, phải chọn lọc thông tin, nắm bắt những thông tin cơ bản về công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh từ đó thấy được tầm quan trọng của công tác hạch toán kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp. Đồng thời, cũng phải cập nhật, tuân thủ chế độ kế toán mà công ty áp dụng, tránh tình trạng rời xa thực tế, thực trạng áp dụng theo thông tư này nhưng cơ sở lí luận lại sử dụng quyết định, thông tư khác. Cần tập hợp mọi thông tin liên quan, sắp xếp trình bày theo một trình tự, bố cục hợp lí dễ đọc, dễ hiểu.
Số liệu phân tích phải dựa trên cơ sở có thật, dẫn chứng cụ thể. Cuối cùng việc rút kinh nghiệm từ những thiếu sót của người đi trước làm tiền đề để bản thân thực hiện đề tài hoàn thiện hơn, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong công tác hạch toán của doanh nghiệp, đưa ra những biện pháp khắc phục cần có cơ sở tính thực tế cao. Bố cục đề tài nghiên cứu 14 Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh, tôi lựa chọn đề tài: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH APOLLO TECH VINA”. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh.
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại. Chương 3: Thực trạng công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH APOLLO TECH VINA. Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH APOLLO TECH VINA. 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.1 Khái quát chung về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh 2.1 Khái quát về doanh thu 2.1 Khái niệm về doanh thu Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu doanh thu cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin cần thiết làm căn cứ đánh giá một cách khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định để từ đó ra các quyết định kinh tế đúng đắn.
Hiện có rất nhiều quan niệm về doanh thu, có thể xem xét và ghi nhận những khoản được coi là doanh thu của doanh nghiệp dưới dạng sự gia tăng của dòng vốn lưu động, có thể coi doanh thu là lợi tức hay được xác định là các luồng tiền vào hoặc tiết kiệm luồng tiền ra, hoặc là những lợi ích kinh tế tương lai dưới hình thức gia tăng giá trị tài sản. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và cách hiểu về doanh thu: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành kèm theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của BTC về việc ban hành và công bố bốn Chuẩn mực kế toán Việt Nam) “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” {1} Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng BTC) thì doanh thu được hiểu là “tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu” {2} Theo quan điểm của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, trên cơ sở xác định doanh thu chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, quan điểm: “Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả trợ giá và 16 phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng” với điều kiện DN đã phát hành hoá đơn hoặc dịch vụ cung cấp đã hoàn thành. {3} Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp “Doanh thu được hiểu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. doanh thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba”.
{4} Như vậy, qua các khái niệm trên, tác giả nhận thấy doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu.2 Phân loại doanh thu - Hiện nay có rất nhiều cách phân loại doanh thu khác nhau: Phân loại theo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu được và sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giờ bán (nếu có).