Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp của nền kinh tế đang phát triển với hơn 90,5 triệu dân vào năm 2014, Việt Nam đối mặt với sự thiếu hụt dịch vụ pháp lý trầm trọng khi tỷ lệ luật sư trên quy mô dân số chỉ đạt xấp xỉ 1/10.000. Đáng chú ý, có tới gần 80% số lượng vụ án hình sự được xét xử mà không có sự tham gia của người bào chữa. Sau 08 năm triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 kể từ ngày có hiệu lực 01/01/2007, công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách đã đạt nhiều dấu mốc nhưng cũng bộc lộ những rào cản thể chế lớn. Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trịnh Thị Thanh dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Nguyễn Đăng Dung tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu toàn diện chặng đường 18 năm hình thành và phát triển của chế định này từ năm 1997 đến năm 2015.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là làm sáng tỏ vị trí, vai trò của trợ giúp pháp lý trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân tích thực trạng tổ chức bộ máy và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quản trị từ nhiều quốc gia phát triển, nghiên cứu xác lập các luận cứ khoa học nhằm tái cấu trúc hệ thống dịch vụ pháp lý công. Đề tài hướng tới bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho hơn 10 nhóm đối tượng yếu thế, thúc đẩy tỷ lệ án hình sự có người bào chữa tăng trưởng mạnh mẽ và tối ưu hóa 100% nguồn lực tài chính công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Lý thuyết Tiếp cận công lý trong khoa học pháp lý hiện đại. Luận văn vận dụng các nguyên tắc nền tảng từ Điều 2, Điều 8, Điều 16, Điều 31 và Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 về quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền nhờ người bào chữa và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Đồng thời, tác giả kết hợp các chuẩn mực quốc tế tại Điều 11 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và Điều 14 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR).

Về mô hình tổ chức, luận văn phân tích 03 mô hình thể chế trợ giúp pháp lý trên thế giới gồm: mô hình từ thiện tự nguyện, mô hình luật sư công lập hưởng lương nhà nước, và mô hình hỗn hợp kết hợp giữa luật sư nhà nước với mạng lưới luật sư tư nhân có hợp đồng chi trả vụ việc. Bốn khái niệm trọng tâm được xác định rõ:

  • Trợ giúp pháp lý: Dịch vụ pháp lý miễn phí do Nhà nước bảo đảm cho các đối tượng đặc thù theo quy định pháp luật.
  • Người thực hiện trợ giúp pháp lý: Gồm 04 nhóm chức danh là Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư hành nghề tự do và Tư vấn viên pháp luật.
  • Người được trợ giúp pháp lý: Nhóm đối tượng ưu tiên bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và người yếu thế.
  • Hình thức trợ giúp pháp lý: Gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và hòa giải.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ Báo cáo tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 của Bộ Tư pháp, số liệu thống kê toàn quốc về 3.417 tổ chức hành nghề và 9.375 luật sư đến hết năm 2014, cùng các báo cáo ngân sách tư pháp quốc tế. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu hành chính của toàn bộ 63 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tại 63 tỉnh, thành phố, kết hợp phương pháp chọn mẫu định tính có chủ đích tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích quy phạm, so sánh luật học đối chiếu với hệ thống pháp luật của hơn 10 quốc gia, và thống kê xã hội học. Việc lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh luật học là yêu cầu khách quan, giúp nhận diện rõ ưu thế của mô hình hỗn hợp quốc tế so với mô hình thuần túy bao cấp, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hoạch định chính sách trong mốc thời gian hoàn thành luận văn năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lực lượng cung cấp dịch vụ pháp lý tại Việt Nam còn quá mỏng và phân bổ thiếu cân đối. Tính đến hết năm 2014, toàn quốc chỉ có 9.375 luật sư hoạt động trong 3.417 tổ chức hành nghề trên tổng số 90,5 triệu dân. Tỷ lệ bình quân đạt 1 luật sư trên 10.000 người dân, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 1/1.000 của Thái Lan và 1/4.000 của Nhật Bản. Hơn 70% số lượng luật sư lại tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến tình trạng khan hiếm luật sư tại các tỉnh miền núi và vùng đặc biệt khó khăn.

Thứ hai, mức độ tham gia tố tụng của người bào chữa đạt tỷ lệ rất thấp. Khoảng 80% các vụ án hình sự trong cả nước được giải quyết mà hoàn toàn thiếu vắng sự tham gia của luật sư hoặc trợ giúp viên pháp lý, tỷ lệ vụ án có người bào chữa chỉ đạt mức trên 20%. Thực trạng này trực tiếp ảnh hưởng đến việc thực thi nguyên tắc tranh tụng dân chủ tại Tòa án.

Thứ ba, cơ cấu vụ việc trợ giúp pháp lý bị mất cân đối nghiêm trọng. Hoạt động tư vấn pháp luật đơn giản chiếm trên 70% tổng số vụ việc, trong khi các hoạt động mang tính chuyên sâu đòi hỏi kỹ năng tranh tụng như đại diện tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng chỉ chiếm khoảng 15% đến 20%.

Thứ tư, nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác trợ giúp pháp lý của Việt Nam ước tính dưới mức 0,01% GDP, trong khi tỷ lệ ngân sách này tại Vương quốc Anh đạt 0,13% GDP, Hà Lan đạt 0,05% GDP và Ireland đạt 0,04% GDP vào năm 2011.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ cơ chế vận hành mang tính hành chính hóa. Chế độ thù lao chi trả cho luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo từng vụ việc còn thấp, chưa đủ bù đắp chi phí thực tế, khiến các luật sư giàu kinh nghiệm chưa mặn mà tham gia. Bên cạnh đó, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước còn chịu nhiều ràng buộc về thủ tục hành chính, thiếu sự chủ động và chuyên môn hóa sâu về kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa.

So sánh với các nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý và nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Minh Lý, luận văn làm sáng tỏ tính tất yếu của việc chuyển dịch sang mô hình hỗn hợp. Các số liệu phân tích có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ luật sư trên quy mô dân số giữa Việt Nam và các nước trong khu vực, kết hợp với biểu đồ tròn biểu thị tỷ lệ 80% vụ án hình sự thiếu người bào chữa. Sự so sánh này khẳng định nếu không tăng cường nguồn lực cho trợ giúp viên và luật sư, mục tiêu cải cách tư pháp sẽ khó đạt được hiệu quả thực chất.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đổi mới căn bản thể chế thông qua việc trình Quốc hội sửa đổi toàn diện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, định hình rõ mô hình trợ giúp pháp lý hỗn hợp, chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý ngang tầm với luật sư chuyên nghiệp; lộ trình thực hiện từ năm 2016 đến năm 2018 do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo.
  • Tái cơ cấu hệ thống tổ chức tại 63 tỉnh, thành phố theo hướng tinh gọn, chuyển dịch trọng tâm hoạt động từ tư vấn pháp luật dàn trải sang tham gia tố tụng chuyên sâu, phấn đấu nâng tỷ trọng các vụ việc tranh tụng tại Tòa án lên mức tối thiểu 40% trong tổng số vụ việc trước năm 2020; do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp thực hiện.
  • Nâng mức chi trả thù lao vụ việc cho luật sư và cộng tác viên lên gấp 2 đến 3 lần định mức hiện hành, tạo đòn bẩy kinh tế thu hút tối thiểu 30% lực lượng luật sư tư nhân trên toàn quốc tham gia ký hợp đồng trợ giúp pháp lý; giai đoạn triển khai từ năm 2016 đến năm 2020 dưới sự phối hợp của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp.
  • Áp dụng bộ công cụ đánh giá chất lượng dịch vụ theo chuẩn quốc tế dựa trên 05 tiêu chí kiểm soát quy trình từ khâu tiếp nhận hồ sơ, giám sát hoạt động tranh tụng tại phiên tòa đến đánh giá đầu ra, bảo đảm đạt tỷ lệ trên 85% người thụ hưởng hài lòng; thời gian hoàn thiện vào năm 2017 do Cục Trợ giúp pháp lý ban hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Các chuyên viên thuộc Bộ Tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý và Sở Tư pháp tại 63 tỉnh, thành phố sử dụng công trình làm cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
  • Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý và hơn 9.000 Luật sư: Khai thác tài liệu để nắm vững vị trí tố tụng, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và phương pháp tối ưu hóa quyền bào chữa cho đương sự, đồng thời hoàn thành định mức tối thiểu 08 giờ trợ giúp pháp lý miễn phí hàng năm.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Luật học: Nguồn tư liệu chuyên khảo có giá trị cao về lịch sử 18 năm phát triển thể chế tư pháp, phương pháp nghiên cứu luật so sánh và dữ liệu đối chiếu quốc tế.
  • Các tổ chức xã hội, Trung tâm tư vấn pháp luật cộng đồng: Vận dụng các kiến thức phân tích để thiết lập mạng lưới bảo vệ quyền con người, hỗ trợ pháp lý trực tiếp cho hơn 10 nhóm đối tượng yếu thế và người nghèo tại các địa bàn khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình trợ giúp pháp lý hỗn hợp? Mô hình luật sư công lập đơn thuần tạo gánh nặng lớn cho ngân sách trong điều kiện chỉ có 9.375 luật sư phục vụ hơn 90,5 triệu dân. Mô hình hỗn hợp giúp kết hợp nguồn lực nhà nước với mạng lưới hơn 3.400 tổ chức hành nghề luật sư tư nhân, nâng cao tính độc lập và mở rộng cơ hội tiếp cận công lý cho người nghèo.

  • Thực trạng tham gia tố tụng của người bào chữa trong các vụ án hình sự như thế nào? Số liệu thực tế chỉ ra rằng khoảng 80% vụ án hình sự hoàn toàn không có sự tham gia của luật sư hoặc người bào chữa, tỷ lệ có mặt người bào chữa chỉ đạt trên 20%. Thực trạng này là rào cản lớn trong việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng dân chủ theo Điều 31 và Điều 103 của Hiến pháp năm 2013.

  • Những chủ thể nào được quyền thực hiện trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam? Pháp luật quy định 04 nhóm chủ thể chính gồm: Trợ giúp viên pháp lý (viên chức nhà nước có bằng cử nhân luật và tối thiểu 02 năm công tác pháp luật), Cộng tác viên trợ giúp pháp lý, Luật sư tham gia theo hợp đồng hoặc nghĩa vụ, và Tư vấn viên pháp luật làm việc tại các Trung tâm tư vấn pháp luật.

  • Kinh nghiệm quốc tế về phân bổ ngân sách cho trợ giúp pháp lý mang lại bài học gì? Nhiều quốc gia phát triển dành nguồn lực tài chính công đáng kể cho lĩnh vực này, tiêu biểu như Vương quốc Anh dành 0,13% GDP và Hà Lan dành 0,05% GDP. Việt Nam cần thành lập Quỹ trợ giúp pháp lý vận hành linh hoạt, tăng cường nguồn tài trợ xã hội bên cạnh ngân sách thường xuyên để thanh toán thù lao vụ việc thỏa đáng.

  • Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý cần được quản lý bằng những giải pháp nào? Luận văn đề xuất áp dụng đồng bộ 05 công cụ đánh giá tiên tiến gồm thẩm định hồ sơ lưu trữ, đánh giá của chuyên gia độc lập, giám sát trực tiếp tại Tòa án, kiểm toán hoạt động và khảo sát mức độ hài lòng của người dân. Quy trình kiểm tra chặt chẽ 03 giai đoạn giúp ngăn ngừa tình trạng dịch vụ miễn phí kém chất lượng.

Kết luận

  • Khẳng định trợ giúp pháp lý là trụ cột thiết yếu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người tiếp cận công lý bình đẳng.
  • Khái quát toàn diện chặng đường 18 năm hình thành (1997 - 2015) và đánh giá sâu sắc 08 năm thực thi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.
  • Nhận diện trực diện khoảng trống thể chế khi 80% vụ án hình sự chưa có người bào chữa và đề xuất chuyển dịch dứt khoát sang mô hình hỗn hợp.
  • Xác lập hệ thống 04 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện thể chế, đổi mới tổ chức, nâng cao tài chính và chuẩn hóa chất lượng trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Tiếp thu có chọn lọc bài học kinh nghiệm từ hơn 10 quốc gia nhằm xây dựng hệ thống tư pháp nhân dân minh bạch, hiện đại.

Các cơ quan quản lý tư pháp, đoàn luật sư tại các địa phương và các nhà nghiên cứu pháp luật hãy chủ động tham khảo, vận dụng các đề xuất khoa học từ luận văn để phục vụ đắc lực cho công cuộc hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới.