Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Vị trí, vai trò TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay TGPL ở nước ta ra đời khá muộn so với lịch sử nền tư pháp Việt Nam. Hoạt động này được nghiên cứu từ năm 1995 và ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển của những năm đầu đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý. Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một tăng đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL.
Cho đến nay, sau gần 18 năm hình thành và phát triển, công tác TGPL đã đạt được nhiều kết quả, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong giúp đỡ về mặt pháp luật cho đông đảo người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác, góp phần phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Có thể khẳng định vai trò và ý nghĩa của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết và quan trọng. TGPL thể hiện được bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tạo lập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội, mọi công dân dù giàu hay nghèo đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tiếp cận dịch vụ pháp lý như nhau trong điều 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiện phát triển nền kinh tế thị trường. TGPL là một trong những hình thức đưa chủ trương chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước, hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm công vụ, đồng thời TGPL góp phần thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; nâng cao ý thức pháp luật và trình độ dân trí để người dân biết cách tự ứng xử phù hợp với các quy định pháp luật, góp phần lành mạnh hóa quan hệ xã hội, một phần củng cố lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Vị trí, vai trò của TGPL trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay được thể hiện qua các khía cạnh lý luận và thực tiễn sau: 1. Vị trí, vai trò TGPL trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, Nhà nước có trách nhiệm là xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật, phải quan tâm đến người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội bằng các chính sách pháp luật và các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cụ thể để đưa pháp luật đến với người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội và đưa họ vào đời sống nhà nước và pháp luật để pháp luật thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại càng phải quan tâm, chú trọng hơn nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của nhóm dân cư này, hạn chế phân hóa giàu nghèo, bảo đảm công bằng xã hội, thực thi trên thực tế nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày nay nội dung “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” [33, Điều 2] có yêu cầu mới là Nhân dân không chỉ chủ yếu thực hiện quyền lực nhà nước thông qua dân chủ đại diện, mà còn từng bước thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, đó sẽ là cơ sở, là tiêu chí để Nhân dân kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước.
Vì vậy, chính Nhà nước phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong bảo đảm cho người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội có được chính sách pháp luật bình đẳng, tạo điều kiện cho họ được hỗ trợ, giúp đỡ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Từ đó, đặt ra yêu cầu TGPL phải giúp người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội nâng cao năng lực, tự mình tham gia quyết định các công việc chung; kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, bảo đảm để cho “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” không những được ghi nhận trong Cương lĩnh, Hiến pháp và được thể chế trong các đạo luật mà còn phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế, đến với mọi người, đặc biệt là người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương để cho quyền lực nhà nước thật sự là của Nhân dân, được Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước mà không bị mất quyền, không bị lạm quyền. Vì vậy, TGPL cần phải tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa để đưa pháp luật đến với người nghèo, những người thuộc nhóm yếu thế để họ được thụ hưởng giá trị tiến bộ mà pháp luật mang lại. Chính vì vậy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi TGPL phải tồn tại và hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức pháp luật của người nghèo và các nhóm người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, giúp họ biết sử dụng pháp luật để bảo vệ và thực thi các quyền và thực hiện các nghĩa vụ trách nhiệm của công dân.
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TGPL gắn với quá trình giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giúp nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội. Đây là một quá trình giáo dục ý thức pháp luật đối với xã hội thông qua sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể đối với Nhà nước và xã hội và các trước chủ thể khác, để từ đó họ nhận thấy được những hành vi được phép làm và những hành vi không được phép làm. Đặc biệt, thông qua những vụ việc cụ thể, TGPL đã giúp những nhóm người này nắm bắt được nội dung pháp luật và cách thức áp dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống để các chủ thể này nắm được nội dung các văn bản pháp luật, hiểu và vận dụng, sử dụng pháp luật một cách chính xác, tích cực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các quan hệ xã hội. TGPL trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn giúp làm sáng tỏ nguyên tắc Hiến pháp “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” [33, Điều 8], “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [33, Điều 16].
Thông qua hoạt động của mình, TGPL giúp người nghèo, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội nhận thức được vị trí, vai trò của mình trước pháp luật; vị trí, vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội; các thiết chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ. TGPL trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có ý nghĩa quan trọng trong việc dần dần hình thành thói quen tuân thủ và chấp hành pháp luật, nghĩa là trong thói quen xử sự đó pháp luật đã thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của con người. Thói quen đó chỉ có thể đạt được do kết quả nhận thức sâu sắc của cá nhân về việc thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội khi tuân thủ pháp luật. Tóm lại, TGPL giúp người nghèo, người thuộc nhóm yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội thấy được pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Nó vừa là biện pháp tăng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa góp phần thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, TGPL là một trong những khâu làm hoàn chỉnh hơn vai trò của ngành Tư pháp từ việc xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống xã hội có hiệu quả. Vị trí, vai trò TGPL trong bảo đảm quyền con người Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã ghi nhận “Quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật và quyền được bào chữa” [23, Điều 11); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ghi nhận “Mọi người đều bình đẳng trước các toà án, cơ quan tài phán và có quyền được hưởng một cách đầy đủ, bình đẳng quyền được bào chữa, ngay cả khi họ không có điều kiện chi trả” (24, Điều 14). Bên cạnh đó, các quyền con người, quyền công dân trong từng lĩnh vực được tiếp tục khẳng định trong nhiều công ước của Liên Hợp quốc như Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường.
Ngày càng có nhiều điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành các đạo luật để bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Việc Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, đặt ra yêu cầu Nhà nước cần có trách nhiệm bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền đó, hạn chế giàu nghèo, kiểm soát được các tiêu cực mới phát sinh.