Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ. Trong đó, giáo dục thể chất giữ vai trò nền tảng, giúp trẻ rèn luyện cơ thể, kích thích hoạt động sinh lý và hình thành các kỹ năng vận động cơ bản cần thiết cho đời sống. Ở độ tuổi mẫu giáo bé (3-4 tuổi), hệ vận động đang trong giai đoạn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện, các thao tác vận động còn thiếu sự phối hợp nhịp nhàng, định hướng không gian và ước lượng khoảng cách còn hạn chế.

Thực tiễn chăm sóc - giáo dục tại các cơ sở mầm non thuộc thành phố Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) cho thấy việc rèn luyện vận động cho trẻ 3-4 tuổi còn gặp nhiều bất cập: cơ sở vật chất và sân bãi chưa đáp ứng đủ do tình trạng quá tải sỹ số trẻ, nội dung chương trình giáo dục thể chất đôi khi còn mang tính hình thức, phương pháp tổ chức trò chơi chưa thực sự phong phú và đội ngũ giáo viên đa phần chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục thể chất. Từ bối cảnh thực tiễn này, tác giả thực hiện khóa luận nhằm xây dựng hệ thống trò chơi vận động phù hợp với lứa tuổi.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Lựa chọn trò chơi vận động nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non thành phố Sầm Sơn.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu lựa chọn trò chơi phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ em, có tính khoa học và hợp lý thì những kỹ năng vận động cơ bản của trẻ sẽ được củng cố và phát triển theo chiều hướng tích cực.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng giáo dục và phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non thành phố Sầm Sơn.
    2. Nhiệm vụ 2: Lựa chọn trò chơi nhằm phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non thành phố Sầm Sơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường mầm non thành phố Sầm Sơn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Lựa chọn trò chơi phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo 3-4 tuổi ở trường mầm non Quảng Đại, Quảng Hùng, Quảng Vinh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các kỹ năng vận động cơ bản gồm: đi, chạy, ném, bắt.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát tại 3 trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; thời điểm hoàn thành vào tháng 06/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học và lý luận giáo dục thể chất trong và ngoài nước:

  • Khung lý thuyết và quan điểm khoa học:

    • Lý luận về bản chất và tâm lý học trò chơi của D. B. Elkonin (B.EL-cô-nhin), K. Ushinsky (K.U-sin-xki), A. Makarenko (A.Ma-ca-ren-cô), L. S. Vygotsky (L.Vưgôtxki), P. A. Rudik (P.A Ru-đích), P. F. Lesgaft (Lex-gáp), N. K. Krupskaya (N.Kô-rúp-xkai-a), A-rô-kin. Các tác giả khẳng định trò chơi là phương tiện hoạt động tự lập, rèn luyện ý chí, kích thích phát triển hệ cơ, xương, khớp, tuần hoàn, hô hấp và cân bằng quá trình thần kinh.
    • Các công trình nghiên cứu trong nước về giáo dục mầm non và trò chơi vận động: tài liệu của Mai Văn Muôn (1989), PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết (1996), ThS. Bùi Thị Việt, PGS. TS. Đặng Hồng Phương, Phạm Thông Tấn, Phạm Vĩnh Thông, Lê Anh Thơ.
    • Khung chương trình Giáo dục mầm non đổi mới và tài liệu hướng dẫn chăm sóc - giáo dục trẻ của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Đọc, phân tích, khái quát hóa các văn bản chuyên môn, sách chuyên khảo, chương trình khung về giáo dục thể chất mầm non.
    2. Phương pháp điều tra bảng hỏi (phiếu phỏng vấn): Sử dụng hệ thống câu hỏi soạn sẵn khảo sát nhận thức, kỹ năng và thực trạng triển khai hoạt động giáo dục thể chất của giáo viên.
    3. Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát tự nhiên các tiết học thể dục, hoạt động ngoài trời, thái độ, mức độ hứng thú và khả năng thực hiện vận động của trẻ.
    4. Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên và cán bộ chuyên môn về thuận lợi, khó khăn và năng lực tiếp nhận vận động của trẻ.
    5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đưa hệ thống trò chơi vận động đã lựa chọn vào dạy học thử nghiệm để đánh giá tác động đối với việc củng cố kỹ năng vận động cơ bản.
    6. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu điều tra thực trạng và đánh giá định lượng thông qua các tham số thống kê cơ bản.
  • Nguồn dữ liệu: Khảo sát toàn diện trên mẫu $n = 48$ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại 3 trường: Mầm non Quảng Đại, Mầm non Quảng Hùng và Mầm non Quảng Vinh thuộc thành phố Sầm Sơn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các khái niệm chuyên môn về kỹ năng vận động (KNVĐ), kỹ năng vận động cơ bản (KNVDCB) và phân tích các đặc trưng tâm - sinh lý của trẻ 3-4 tuổi:

  • Bản chất KNVĐ và KNVDCB: KNVĐ là năng lực giải quyết nhiệm vụ vận động khi người học phải tập trung ý thức vào từng động tác. KNVDCB là mức độ thực hiện các động tác tự nhiên (đi, chạy, nhảy, ném, bò, trườn...) làm nền tảng cho sự thích ứng môi trường.
  • Quá trình hình thành KNVĐ trải qua 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Hình thành kỹ năng vận động đầu tiên (trẻ nắm biểu tượng tổng thể, cơ bắp còn căng cứng, nhiều động tác thừa).
    • Giai đoạn 2: Học sâu từng phần của bài tập (phối hợp tay chân nhịp nhàng hơn, bắt đầu xuất hiện các tố chất vận động).
    • Giai đoạn 3: Củng cố và hoàn thiện kỹ năng, chuyển dần thành kỹ xảo vận động.
  • Đặc điểm phát triển của trẻ 3-4 tuổi: Trẻ có nhu cầu vận động cao nhưng hệ thần kinh dễ mệt mỏi; bước đi chưa thật ổn định; chạy chưa nâng cao được đùi và phản xạ xuất phát còn chậm; ném ngang thường rơi cách đích từ 25-50 cm; ném xa hai tay chưa biết tận dụng lực đẩy của thân trên. Về mặt nhận thức, tri giác vận động của trẻ chưa hoàn thiện, đòi hỏi giáo viên phải làm mẫu chậm và kết hợp giải thích trực quan.
  • Cấu trúc và phân loại trò chơi vận động: Mỗi trò chơi gồm 3 thành phần liên kết chặt chẽ (Nội dung chơi/Nhiệm vụ vận động, Hành động chơi, Luật chơi). Khóa luận đối chiếu hệ thống phân loại theo 4 nhóm hiệu quả thể lực của Nguyễn Ánh Tuyết (mạnh mẽ - dũng cảm, nhanh nhẹn, dẻo dai - bền bỉ, khéo léo) và cách phân loại đa tiêu chí của Đặng Hồng Phương (theo hình thức, lượng vận động, năng lực vận động, dụng cụ và tính chất trò chơi).

Chương 2. Thực trạng lựa chọn trò chơi cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi các trường mầm non ở TP Sầm Sơn

Chương 2 phản ánh chi tiết điều kiện thực tế tại 3 trường mầm non và phân tích dữ liệu điều tra từ 48 giáo viên:

  • Đặc điểm cơ sở vật chất và đội ngũ tại 3 trường khảo sát:
    • Trường Mầm non Quảng Đại: Tổng diện tích $4.845\text{ m}^2$ (diện tích xây dựng khoảng hơn $1.800\text{ m}^2$, mật độ 50%), đội ngũ gồm 32 giáo viên.
    • Trường Mầm non Quảng Hùng: Tổng diện tích $3.550\text{ m}^2$, đội ngũ gồm 28 giáo viên.
    • Trường Mầm non Quảng Vinh: Tổng diện tích $5.115\text{ m}^2$, đội ngũ gồm 40 giáo viên.
  • Cấu trúc thời gian tổ chức hoạt động giáo dục thể chất (Bảng 2.1 trong văn bản):
    • Giờ đón trẻ: 60 phút học, 30-45 phút chơi (xếp hình, lắp ghép).
    • Chơi trong lớp: 45-60 phút học, 15-20 phút chơi (đóng vai, xây dựng, học tập, đóng kịch, TCVĐ).
    • Hoạt động ngoài trời: 15-25 phút học, 15 phút chơi (TCVĐ, chơi tự do).
    • Giờ chơi buổi chiều: 60-90 phút học, 60 phút chơi (xếp hình).
    • Chương trình thể dục hiện hành quy định 36 tiết/năm với 31 TCVĐ (gồm 15 TCVĐ dân gian, 11 TCVĐ trong tiết thể dục và 5 TCVĐ khác).
  • Thực trạng thực hiện chương trình và nhận thức của giáo viên:
Nội dung khảo sát ($n=48$) Đồng ý (SL / %) Không đồng ý (SL / %) Không ý kiến (SL / %)
Nội dung chương trình GDTC đã phù hợp 38 (79,17%) 10 (20,83%) 0 (0%)
Giáo viên gặp nhiều khó khăn khi thực hiện chương trình 40 (83,33%) 8 (16,67%) 0 (0%)
Giáo viên thực hiện đúng phân phối chương trình 26 (54,17%) 20 (41,67%) 2 (4,16%)
Quá trình dạy có bài thực hiện, có bài không theo chương trình 36 (75,00%) 8 (16,67%) 4 (8,33%)
Hạn chế khi thực hiện do trình độ chuyên môn của giáo viên 28 (58,32%) 18 (37,50%) 2 (4,16%)
Hạn chế do giáo viên phải kiêm nhiệm dạy nhiều môn 34 (70,83%) 14 (29,17%) 0 (0%)
  • Đánh giá thực trạng tổ chức và hạn chế của giáo viên ($n=48$):
    • Mức độ và thời điểm: 83,33% giáo viên sử dụng TCVĐ thường xuyên; thời điểm tổ chức nhiều nhất là trong hoạt động chung có mục đích giáo dục (83,33%), giờ chơi buổi chiều (75,00%) và hoạt động ngoài trời (70,83%).
    • Nhóm trò chơi ưu tiên: Nhóm rèn luyện KNVDCB chiếm 91,67%, nhóm phát triển tố chất vận động chiếm 83,33%.
    • Khó khăn chính: Số lượng trẻ trong lớp quá đông (83,33%), cơ sở vật chất và đồ dùng thiếu thốn so với sỹ số (75,00%), thời gian bó buộc (54,17%).
    • Trình độ và năng lực tự đánh giá: Về bằng cấp, có 41,67% trình độ Đại học, 50,00% Cao đẳng, 8,33% Trung cấp. Tuy nhiên, 95,83% giáo viên tự nhận thiếu chuyên môn sâu về GDTC, 91,67% không có kiến thức về phòng ngừa và xử lý chấn thương trong vận động, 83,33% thừa nhận khả năng tổ chức giờ học chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn, và 79,17% cho rằng phương pháp dạy còn đơn điệu.
    • Khảo sát danh mục trò chơi thực tế (Bảng 2.3): Tổng hợp 24 trò chơi đang được sử dụng rải rác nhưng thiếu tính đồng bộ giữa các trường (như Ô tô vào bến, Trốn tìm, Lò cò, Bịt mắt bắt dê, Kéo cưa lừa xẻ, Chuyền bóng, Kéo co, Mèo đuổi chuột, Nu na nu nống, Vượt chướng ngại vật, Chi chi chành chành...).

Chương 3. Lựa chọn trò chơi nhằm phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trường TP Sầm Sơn

Chương 3 đề xuất quy trình, tiêu chí và danh mục trò chơi vận động đã được sàng lọc, phân nhóm kèm hướng dẫn tổ chức:

  • Nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn:
    • Đảm bảo 4 nguyên tắc giáo dục thể chất: Tự giác tích cực; Thích hợp và cá biệt hóa; Hệ thống; Tăng dần yêu cầu.
    • Tuân thủ 4 tiêu chí cốt lõi: (1) Đảm bảo tạo hứng thú cao cho trẻ; (2) Phát triển đúng các KNVDCB mục tiêu; (3) Đảm bảo lượng vận động phát triển tố chất thể lực; (4) Phù hợp với thái độ và phản ứng tâm lý của trẻ.
    • Quy trình lựa chọn 5 bước: Nghiên cứu nội dung chương trình $\rightarrow$ Nghiên cứu đặc điểm vận động của trẻ 3-4 tuổi $\rightarrow$ Nghiên cứu điều kiện CSVC và thiết bị $\rightarrow$ Tổ chức chơi thử nghiệm $\rightarrow$ Phổ biến áp dụng chính thức.
  • Kết quả sàng lọc và cho điểm danh mục trò chơi ($n=48$ giáo viên, thang điểm lựa chọn: Lựa chọn 1 = 5 điểm, Lựa chọn 2 = 3 điểm, Lựa chọn 3 = 1 điểm):
STT Tên trò chơi Lựa chọn 1 (SL) Lựa chọn 2 (SL) Lựa chọn 3 (SL) Tổng điểm Tỷ lệ %
1 Vượt chướng ngại vật 48 0 0 240 100%
2 Kéo cưa lừa xẻ 46 2 0 236 95,83%
3 Mèo đuổi chuột 40 0 8 208 83,33%
4 Lò cò 36 6 6 204 75,00%
5 Ô tô vào bến 30 10 8 188 62,50%
6 Chi chi chành chành 26 21 2 195 54,16%
7 Trốn tìm 40 18 24 108 83,33%
8 Bịt mắt bắt dê 10 33 5 154 68,75%
9 Trời nắng, trời mưa 10 8 30 96 62,50%
10 Kéo co 10 5 33 98 68,75%
11 Rồng rắn lên mây 22 6 20 148 45,83%
12 Gió và lá 20 8 20 144 41,67%
13 Nu na nu nống 12 20 16 136 41,67%
14 Cáo và thỏ 12 16 20 128 41,67%
15 Dung dăng dung dẻ 8 24 16 128 50,00%
  • Hệ thống trò chơi được lựa chọn và biên soạn hướng dẫn:

    • Nhóm trò chơi phát triển kỹ năng đi, chạy:
      • Trò chơi "Ô tô vào bến": Rèn luyện kỹ năng chạy, sức nhanh, định hướng không gian theo tín hiệu cờ màu sắc (khoảng 30 giây đổi hiệu lệnh một lần).
      • Trò chơi "Mèo đuổi chuột": Tổ chức theo nhóm 7-10 trẻ đứng vòng tròn, rèn luyện kỹ năng chạy đổi hướng, sự phối hợp tập thể và phản xạ nhanh.
    • Nhóm trò chơi phát triển kỹ năng ném, bắt và phối hợp khéo léo:
      • Trò chơi "Chi chi chành chành": Nhóm 3-5 trẻ, rèn luyện độ nhanh nhạy của bàn tay, phản xạ rút tay và sự tập trung chú ý.
      • Trò chơi "Kéo cưa lừa xẻ": Từng đôi trẻ ngồi đối diện nắm tay kéo nhịp nhàng theo lời đồng dao, rèn luyện sức mạnh cơ bắp tay và định hướng chuyển động.
      • Trò chơi "Nu na nu nống": Nhóm 5-7 trẻ ngồi duỗi chân theo nhịp bài đồng dao, rèn luyện phản xạ vận động chân.
      • Trò chơi "Vượt chướng ngại vật": Chia 3-5 nhóm; trẻ chạy, bật chụm tách qua "suối", chui qua hầm (thùng carton), nhảy lấy vòng và ném vào cổ chai.
  • Hệ thống 3 giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất:

    • Giải pháp 1: Lựa chọn trò chơi và nhóm trò chơi gây hứng thú cho trẻ, phù hợp theo mùa, thời điểm sinh hoạt và chủ đề giáo dục hàng tháng.
    • Giải pháp 2: Tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy về phương pháp tổ chức TCVĐ và kiến thức phòng ngừa chấn thương.
    • Giải pháp 3: Xây dựng môi trường chơi phong phú, bổ sung dụng cụ học tập và đồ chơi trực quan, hấp dẫn.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khảo sát định lượng cụ thể:

    • Cung cấp bức tranh thực trạng về giáo dục thể chất ở độ tuổi 3-4 tuổi tại 3 trường mầm non TP Sầm Sơn với các chỉ số rõ ràng: 95,83% giáo viên thiếu chuyên môn sâu về GDTC, 91,67% thiếu kiến thức sơ cấp cứu/chấn thương; 83,33% gặp rào cản do lớp học quá tải; 75,00% gặp hạn chế về trang thiết bị vận động.
    • Đánh giá được mức độ thực hiện phân phối chương trình: chỉ có 54,17% giáo viên thực hiện đúng định mức kế hoạch dạy học thể chất, 75,00% có tình trạng bài dạy bài bỏ.
  • Đóng góp về mặt giải pháp và tài liệu sư phạm:

    • Sàng lọc từ 24 trò chơi trong thực tế để chọn ra danh mục trò chơi vận động đạt mức đồng thuận cao (đặc biệt các trò chơi đạt điểm số tuyệt đối hoặc trên 80% như Vượt chướng ngại vật 100%, Kéo cưa lừa xẻ 95,83%, Mèo đuổi chuột 83,33%).
    • Chuẩn hóa cấu trúc hướng dẫn trò chơi (Mục đích - Chuẩn bị - Cách chơi - Hướng dẫn gợi ý) bám sát các KNVDCB cốt lõi: đi, chạy, ném, bắt.
    • Xây dựng quy trình lựa chọn 5 bước và đề xuất 3 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ giữa bồi dưỡng chuyên môn giáo viên, quy hoạch môi trường cơ sở vật chất và đổi mới phương pháp giảng dạy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:

    • Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ giới hạn ở 3 trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Sầm Sơn (Quảng Đại, Quảng Hùng, Quảng Vinh), chưa khảo sát diện rộng ở các nhóm lớp mầm non tư thục hoặc các địa phương khác.
    • Nội dung nghiên cứu mới tập trung vào 4 kỹ năng vận động cơ bản (đi, chạy, ném, bắt), chưa mở rộng sang các dạng vận động phối hợp phức tạp khác (bò, trườn, trèo, giữ thăng bằng nâng cao).
    • Tác giả tự nhận định do thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên các tham số đánh giá mức độ phát triển thể lực sau thực nghiệm chưa được mở rộng kiểm chứng qua nhiều chu kỳ năm học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm hệ thống trò chơi trên toàn bộ hệ thống trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa.
    • Đo lường chi tiết hơn sự biến đổi về các chỉ số hình thái - chức năng sinh học (chiều cao, cân nặng, dung tích sống, nhịp tim) của trẻ sau quá trình áp dụng hệ thống trò chơi vận động mới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Thể chất: Sử dụng làm tài liệu tham khảo phương pháp luận nghiên cứu khoa học sư phạm, phương pháp khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi ($n=48$) và kỹ thuật thiết kế giáo án trò chơi vận động.
  • Giáo viên mầm non phụ trách lứa tuổi 3-4 tuổi: Tham khảo trực tiếp danh mục trò chơi vận động, các bước tổ chức trò chơi có chia nhóm kỹ năng (đi, chạy, ném, bắt) và các lưu ý an toàn phòng tránh chấn thương.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các cơ sở mầm non: Vận dụng các giải pháp về tập huấn chuyên đề giáo dục thể chất và quy hoạch môi trường sân bãi phục vụ vận động ngoài trời.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khóa luận khảo sát thực trạng tại những trường mầm non nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?
    Khóa luận khảo sát thực trạng tại 3 trường mầm non công lập thuộc thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa: Mầm non Quảng Đại ($4.845\text{ m}^2$, 32 giáo viên), Mầm non Quảng Hùng ($3.550\text{ m}^2$, 28 giáo viên) và Mầm non Quảng Vinh ($5.115\text{ m}^2$, 40 giáo viên). Tổng số giáo viên tham gia trả lời phiếu phỏng vấn khảo sát là $n = 48$.

  2. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên gặp phải khi tổ chức trò chơi vận động cho trẻ 3-4 tuổi tại Sầm Sơn là gì?
    Theo kết quả phỏng vấn ở Bảng 2.5, khó khăn lớn nhất là số lượng trẻ trong lớp quá đông (chiếm 83,33% ý kiến giáo viên), tiếp theo là tình trạng cơ sở vật chất, đồ chơi vận động còn thiếu thốn (75,00%) và thời gian tổ chức bị bó buộc (54,17%).

  3. Kết quả khảo sát về kiến thức chuyên môn và phòng ngừa chấn thương của giáo viên thể hiện số liệu như thế nào?
    Theo Bảng 2.7, có 95,83% giáo viên (46/48 người) thừa nhận còn thiếu chuyên môn nghiệp vụ sâu về giáo dục thể chất mầm non và 91,67% (44/48 người) phản ánh bản thân không có kiến thức về phòng ngừa chấn thương cho trẻ khi tập luyện vận động.

  4. Những trò chơi vận động nào đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất trong quá trình sàng lọc ở Chương 3?
    Các trò chơi đạt điểm số và tỷ lệ lựa chọn cao nhất từ 48 giáo viên gồm: "Vượt chướng ngại vật" (100%, 240 điểm), "Kéo cưa lừa xẻ" (95,83%, 236 điểm), "Mèo đuổi chuột" (83,33%, 208 điểm), "Trốn tìm" (83,33%, 108 điểm) và "Lò cò" (75,00%, 204 điểm).

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Hằng Nga đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 3-4 tuổi và phản ánh trung thực thực trạng giáo dục thể chất tại 3 trường mầm non trên địa bàn thành phố Sầm Sơn thông qua khảo sát 48 giáo viên. Tác giả đã xây dựng quy trình 5 bước, xác lập 4 tiêu chí và sàng lọc thành công hệ thống trò chơi vận động phân chia theo các nhóm kỹ năng đi, chạy, ném, bắt, có hướng dẫn tổ chức cụ thể. Đề tài đóng góp tài liệu thực tiễn hữu ích cho công tác chăm sóc, giáo dục thể chất trẻ mẫu giáo bé tại các trường mầm non địa phương.