Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa của tác giả Vũ Thái Phương Nam (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2022) tập trung vào vấn đề sức khỏe tâm thần của sinh viên y dược trong giai đoạn đào tạo đại học. Theo các số liệu dịch tễ học toàn cầu được tác giả trích dẫn từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rối loạn tâm thần ảnh hưởng đến khoảng 25% dân số thế giới tại một thời điểm trong đời. Riêng trầm cảm ảnh hưởng tới xấp xỉ 350 triệu người (ước tính năm 2012), và từ năm 1990 đến năm 2013, số lượng người chịu tác động của trầm cảm hoặc rối loạn lo âu đã tăng gần 50%, từ 416 triệu lên 615 triệu người. Dự báo đến năm 2030, trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu cấu thành gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Tại Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm và lo âu trên toàn dân số được ghi nhận lần lượt là 4,0% và 2,2%. Tuy nhiên, ở nhóm thanh niên và sinh viên đại học, tỷ lệ này gia tăng rõ rệt do sự xáo trộn môi trường sống, tâm lý chưa định hình vững vàng và áp lực thích nghi xã hội. Đối với sinh viên khối ngành Y Dược, nguy cơ rối loạn tâm thần càng trở nên đặc thù và nghiêm trọng hơn do khối lượng kiến thức chuyên môn đồ sộ, thời gian đào tạo kéo dài, tính kỷ luật cao, các ca trực bệnh viện và quá trình thực hành lâm sàng liên tục. Năm 2015, nghiên cứu tại 8 trường đại học y dược tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ trầm cảm lên tới 43,2%, trong đó 8,7% có ý tưởng tự sát, 3,9% lên kế hoạch và 0,9% đã thực hiện hành vi tự sát.
Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN là cơ sở đào tạo y khoa trọng điểm phía Bắc với mô hình đào tạo kết hợp – kế tiếp (a+b), đòi hỏi sinh viên phải chuyển đổi môi trường học tập từ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên sang Trường Đại học Y Dược. Sinh viên ngoại tỉnh chiếm số lượng đáng kể, phải đối mặt với các vấn đề tự lập, quản lý tài chính và sinh hoạt tập thể. Tác giả nhận định phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát đơn lẻ từng tình trạng hoặc thực hiện trên đối tượng y tế công cộng; việc đánh giá đồng thời cả ba vấn đề trầm cảm, lo âu và stress trên sinh viên y dược tại cùng một thời điểm còn hạn chế.
Đề tài được xác định với 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021-2022.
- Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021-2022.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc 6 chuyên ngành đang đào tạo tại trường: Bác sĩ đa khoa, Dược học, Răng - Hàm - Mặt, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học và Điều dưỡng. Tiêu chuẩn loại trừ là các sinh viên đã thôi học.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ đề tài tiến hành từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022, trong đó giai đoạn thu thập dữ liệu trực tuyến diễn ra từ tháng 10/2021 đến hết tháng 01/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa trong tâm thần học và tâm lý học lâm sàng:
- Trầm cảm: Tiếp cận theo Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10, mã F32.-), định nghĩa trầm cảm là trạng thái ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần (ức chế cảm xúc, tư duy và vận động), kéo dài tối thiểu 2 tuần với các triệu chứng cốt lõi như khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng, đi kèm giảm tập trung, giảm tự trọng, ý tưởng tự hủy hoại, rối loạn giấc ngủ và sút cân.
- Lo âu: Tiếp cận theo phân loại của WHO về các rối loạn tâm căn liên quan đến stress và dạng cơ thể, biểu hiện qua sự sợ hãi quá mức, vô cớ, mạn tính hoặc kịch phát (như rối loạn lo âu lan tỏa - GAD, rối loạn lo âu xã hội - SAD).
- Stress: Sử dụng khung lý thuyết tâm lý học của Richard Lazarus, xác định stress là trạng thái hoặc cảm xúc nảy sinh khi cá nhân nhận thấy các đòi hỏi từ bên ngoài hoặc bên trong vượt quá nguồn lực cá nhân và xã hội có thể huy động.
Về công cụ đo lường, tác giả sử dụng thang đo DASS-21 (Depression – Anxiety – Stress Scale) rút gọn từ thang DASS-42 do Lovibond S.F xây dựng năm 1995. Phiên bản tiếng Việt sử dụng nghiên cứu chuẩn hóa của Trần Đức Thạch và cộng sự năm 2013 với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,88. Thang đo gồm 21 câu hỏi (mỗi phân thang gồm 7 mục), đánh giá triệu chứng trong 1 tuần gần nhất theo 4 mức điểm (0 đến 3). Điểm của từng phân thang được nhân đôi để quy về thang điểm 42, phân loại mức độ nghiêm trọng theo ngưỡng chuẩn:
| Phân loại mức độ |
Trầm cảm (điểm) |
Lo âu (điểm) |
Stress (điểm) |
| Bình thường |
0 – 9 |
0 – 7 |
0 – 14 |
| Nhẹ |
10 – 13 |
8 – 9 |
15 – 18 |
| Vừa |
14 – 20 |
10 – 14 |
19 – 25 |
| Nặng |
21 – 27 |
15 – 19 |
26 – 33 |
| Rất nặng |
$\ge 28$ |
$\ge 20$ |
$\ge 34$ |
Thiết kế và phương pháp chọn mẫu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu lý thuyết: Tính toán bằng phần mềm WHO Sample Size 2.0 theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng 6 khối năm học ($L=6$), mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z = 1,96$), sai số tuyệt đối $d = 0,05$, tỷ lệ trầm cảm tham chiếu từ sinh viên Đại học Y Hà Nội $P = 0,396$. Tổng quần thể 6 khối là 1.685 sinh viên; cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 302 sinh viên.
- Cỡ mẫu thực tế và phương pháp thu thập: Tác giả tiến hành chọn mẫu thuận tiện khảo sát toàn bộ các lớp sinh viên qua biểu mẫu điện tử Google Form, thu thập thành công 783 phiếu hợp lệ (vượt cỡ mẫu tối thiểu).
Phân bố cỡ mẫu khảo sát thực tế theo từng khối năm học như sau:
| Khối sinh viên |
Kích thước quần thể ($N_h$) |
Cỡ mẫu tối thiểu lý thuyết |
Số lượng thực tế thu được ($n$) |
Tỷ lệ khảo sát/quần thể (%) |
| Năm thứ nhất |
394 |
71 |
163 |
41% |
| Năm thứ hai |
412 |
74 |
140 |
34% |
| Năm thứ ba |
341 |
61 |
155 |
45% |
| Năm thứ tư |
274 |
49 |
176 |
64% |
| Năm thứ năm |
207 |
37 |
107 |
52% |
| Năm thứ sáu |
57 |
10 |
42 |
74% |
| Tổng cộng |
1.685 |
302 |
783 |
46,5% |
Nguồn dữ liệu là sơ cấp thông qua tự điền phiếu hỏi trực tuyến. Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0, áp dụng các thuật toán thống kê mô tả và kiểm định tương quan với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$. Đề tài tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu, được thông qua bởi Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh Sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN, bảo đảm bảo mật danh tính và quyền tự nguyện rút lui của người tham gia.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Phần này làm rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe tâm thần học đường, sự gia tăng gánh nặng bệnh tật của các rối loạn cảm xúc trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra tính chất cấp bách của việc nghiên cứu đồng thời ba trạng thái tâm lý trầm cảm, lo âu và stress tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN trong bối cảnh sinh viên y khoa chịu áp lực học tập và thực hành lâm sàng lớn.
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và y văn liên quan:
- Trình bày định nghĩa y học của trầm cảm theo ICD-10, các góc độ tiếp cận về rối loạn lo âu và các quan niệm về stress từ góc nhìn sinh học thích nghi của Hans Selye (1914) đến khía cạnh nhận thức tâm lý của Richard Lazarus.
- Phân tích dịch tễ học và các nhóm yếu tố nguy cơ dẫn đến căng thẳng tâm lý ở sinh viên đại học (yếu tố cá nhân, nhân khẩu học, học tập, tài chính và các mối quan hệ xã hội).
- Tổng thuật các nghiên cứu quốc tế: Nuran Bayram et al. (Thổ Nhĩ Kỳ, 2008), Khadijah Shamsuddin et al. (Malaysia, 2013), Lu Chen et al. (Trung Quốc, 2013), Ganesh S. Kumar et al. (Ấn Độ, 2012), Wafaa Yousif Abdel Wahed et al. (Ai Cập, 2016). Các công trình đều ghi nhận sinh viên y khoa có tỷ lệ rối loạn tâm thần cao, chịu ảnh hưởng bởi giới tính nữ, năm học, áp lực thi cử và sự hài lòng với ngành học.
- Tổng thuật các nghiên cứu trong nước: Lê Minh Thuận (2011) tại Đại học Y Dược TP.HCM ghi nhận tỷ lệ stress 77%, lo âu 75%, trầm cảm 75%; Nguyễn Hữu Thụ (2009) tại ĐHQGHN; Phan Thị Diệu Ngọc (2014) tại Đại học Y khoa Vinh; Phạm Thị Huyền Trang (2013) tại Đại học Y Hà Nội; Lê Thu Huyền (2010) và Nguyễn Thành Trung (2017) trên sinh viên y tế công cộng.
- Giới thiệu lịch sử, sứ mệnh và mô hình đào tạo (a+b) của Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN với 6 chuyên ngành đại học, lý giải nguyên nhân sinh viên dễ gặp khó khăn khi chuyển giao các giai đoạn đào tạo.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận:
- Tiêu chuẩn tuyển chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu thuộc 6 ngành học từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu.
- Quy trình tính toán cỡ mẫu phân tầng theo 6 khối năm học bằng phần mềm WHO Sample Size 2.0 và quy trình lấy mẫu thuận tiện thông qua Google Form.
- Cấu trúc bộ câu hỏi điều tra gồm các nhóm biến số: nhân khẩu - xã hội (giới tính, tôn giáo, dân tộc, nơi sinh, nơi ở, tài chính), biến số học tập (GPA, thi lại, mức độ hài lòng kết quả học tập, vi phạm kỷ luật), biến số gia đình - bạn bè (hôn nhân bố mẹ, kinh tế gia đình, mâu thuẫn gia đình, chia sẻ bạn bè), và 21 đề mục chuẩn của thang đo DASS-21.
- Quy trình làm sạch dữ liệu, phân nhóm nhị phân biến phụ thuộc (có biểu hiện bệnh gồm nhẹ đến rất nặng / bình thường) phục vụ xử lý trên SPSS 20.0.
- Khẳng định tính tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh và thảo luận các sai số tiềm ẩn trong nghiên cứu cắt ngang trực tuyến.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ 783 sinh viên:
- Đặc điểm nhân khẩu học: Nữ giới chiếm 56,2% (440 sinh viên), nam giới chiếm 43,8% (343 sinh viên). Sinh viên năm thứ tư tham gia đông nhất (22,5%), năm thứ sáu thấp nhất (5,4%). Dân tộc Kinh chiếm 87,6%, tiếp theo là Tày (5,2%), Mường (5,0%), Thái (1,0%), Nùng (0,8%). 92,5% không theo tôn giáo. 57,7% sinh viên sinh ra ở nông thôn; 52,6% đang thuê trọ, 16,7% ở ký túc xá, 21,5% sống cùng bố mẹ và 9,1% ở nhà người thân.
- Hoàn cảnh kinh tế và gia đình: 47,3% cảm thấy tài chính gần đủ nhưng phải đắn đo khi chi tiêu; 29,6% đủ; 11,6% không đủ sinh hoạt phí. 96,0% có bố mẹ sống cùng nhau; 90,5% đánh giá kinh tế gia đình ở mức trung bình. 43,8% thường xuyên chứng kiến bố mẹ bất hòa; 39,7% có mâu thuẫn gia đình; 31,9% khó thích nghi nơi ở trọ/nhà người quen; 50,7% khó tìm bạn mới. Tỷ lệ có bạn thân đạt 81-82% và 83,8% duy trì chia sẻ với bạn bè.
- Đặc điểm học tập: GPA loại khá chiếm 57,4%, giỏi chiếm 17,4%, trung bình 18,8%, xuất sắc 4,1%, yếu 2,3%. Tỷ lệ không hài lòng với điểm thi lên tới 64,8%. Tỷ lệ phải thi lại là 12,4% (trong 97 sinh viên thi lại, có 56,7% thi lại 1 môn, 27,8% thi lại 2 môn, 15,5% thi lại trên 2 môn). Tỷ lệ vi phạm nội quy là 0,9% (7 sinh viên).
- Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress: Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm chung là 53,4%; lo âu là 59,5%; stress là 48,0%.
- Phân bố theo giới tính: Nữ giới có tỷ lệ mắc các rối loạn cao hơn nam giới: trầm cảm ở nữ là 51,7% (nam: 48,3%), lo âu ở nữ là 55,2% (nam: 44,8%), stress ở nữ là 59,3% (nam: 40,7%).
- Phân bố theo năm học: Trầm cảm cao nhất ở sinh viên năm thứ hai (58,6%), thấp nhất ở năm thứ nhất (44,8%). Lo âu cao nhất ở sinh viên năm thứ sáu (71,4%), thấp nhất ở năm thứ ba (55,5%). Stress cao nhất ở sinh viên năm thứ ba (52,9%), thấp nhất ở năm thứ năm (42,1%).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu kết quả khảo sát với y văn trong và ngoài nước:
- So sánh tỷ lệ hiện mắc với các nghiên cứu trước: Tỷ lệ trầm cảm (53,4%) và lo âu (59,5%) tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN cao hơn kết quả trên sinh viên y khoa Ai Cập của Wafaa Yousif Abdel Wahed (37,1% và 34,4%) hay sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ của Nuran Bayram (27,1% và 47,1%), nhưng tương đồng với các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Thuận tại TP.HCM.
- Lý giải sự biến thiên theo năm học: Sinh viên năm thứ hai có tỷ lệ trầm cảm cao nhất do bước vào giai đoạn chuyển giao kiến thức cơ sở ngành y dược nặng nề theo mô hình (a+b); sinh viên năm thứ sáu có tỷ lệ lo âu cao nhất (71,4%) do đối mặt với áp lực thi tốt nghiệp, đầu ra lâm sàng và định hướng việc làm; sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ stress cao nhất (52,9%) do bắt đầu tiếp cận môi trường thực tập bệnh viện.
- Phân tích các yếu tố liên quan: Khẳng định vai trò của áp lực học tập, sự không hài lòng với kết quả thi cử, tình trạng tài chính eo hẹp và các mâu thuẫn gia đình/xã hội đối với sự suy giảm sức khỏe tâm thần của sinh viên.
- Phân tích hạn chế phương pháp luận: Chỉ ra các sai số ngẫu nhiên và hệ thống từ phương pháp khảo sát trực tuyến tự điền, tính chất nhạy cảm của vấn đề sức khỏe tâm thần khiến sinh viên có thể che giấu triệu chứng, và bản chất cắt ngang không cho phép xác lập mối liên hệ nhân quả.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Kết quả chính của nghiên cứu phản ánh mức độ hiện mắc các rối loạn tâm lý phổ biến trong nhóm sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN thông qua thang đo chuẩn hóa DASS-21 ($n = 783$):
| Tình trạng tâm lý |
Tổng tỷ lệ có biểu hiện (%) |
Bình thường (%) |
Mức độ nhẹ (%) |
Mức độ vừa (%) |
Mức độ nặng (%) |
Mức độ rất nặng (%) |
| Trầm cảm |
53,4% (418 SV) |
46,6% (365 SV) |
25,8% (202 SV) |
20,9% (164 SV) |
3,6% (28 SV) |
3,1% (24 SV) |
| Lo âu |
59,5% (466 SV) |
40,5% (317 SV) |
14,7% (115 SV) |
29,2% (229 SV) |
9,5% (74 SV) |
6,1% (48 SV) |
| Stress |
48,0% (376 SV) |
52,0% (407 SV) |
25,3% (198 SV) |
15,2% (119 SV) |
5,4% (42 SV) |
2,2% (17 SV) |
Các phát hiện đặc trưng về nhân khẩu học và học tập gồm:
- Tỷ lệ có triệu chứng lo âu ở mức độ nặng và rất nặng chiếm tỷ lệ đáng kể (9,5% nặng và 6,1% rất nặng).
- Nữ giới chịu ảnh hưởng nặng nề hơn nam giới ở cả 3 mặt: tỷ lệ trầm cảm ở nữ là 51,7%, lo âu là 55,2% và stress là 59,3%.
- Nguy cơ biến thiên rõ rệt theo từng giai đoạn học tập: Đỉnh điểm trầm cảm thuộc về năm thứ hai (58,6%), đỉnh điểm lo âu thuộc về năm cuối/năm thứ sáu (71,4%), và đỉnh điểm stress thuộc về năm thứ ba (52,9%).
- Nhóm sinh viên không hài lòng với điểm số chiếm tới 64,8% tổng mẫu, và 47,3% phải cân nhắc chặt chẽ chi tiêu do hạn hẹp tài chính cá nhân.
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đây là một trong những nghiên cứu dịch tễ học toàn diện đầu tiên đánh giá đồng thời cả 3 tình trạng trầm cảm, lo âu và stress tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN bao quát cả 6 khối lớp và 6 chuyên ngành. Nghiên cứu cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm về thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên y khoa trong bối cảnh đào tạo đặc thù, làm cơ sở khoa học để nhà trường xây dựng các chính sách tham vấn tâm lý học đường, hỗ trợ sinh viên ngoại tỉnh, và sắp xếp khối lượng học tập – thực hành lâm sàng hợp lý hơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả đã chỉ ra các hạn chế phương pháp luận cụ thể trong văn bản:
- Hạn chế về thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang tại một thời điểm, do đó chỉ xác định được tỷ lệ hiện mắc và mối liên quan tương quan, không thể thiết lập hay chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan với tình trạng rối loạn tâm thần.
- Hạn chế về phạm vi quần thể: Mẫu nghiên cứu mới chỉ thực hiện trên sinh viên của một trường đại học đơn lẻ (Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN), chưa mở rộng so sánh liên trường.
- Hạn chế của công cụ đo lường: Thang đo DASS-21 là bộ công cụ sàng lọc cộng đồng, điểm số phản ánh các biểu hiện và mức độ triệu chứng chủ quan trong 1 tuần gần nhất, hoàn toàn không có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý tâm thần như các tiêu chuẩn lâm sàng chuyên sâu của ICD-10.
- Sai số thu thập số liệu: Sức khỏe tâm thần là chủ đề nhạy cảm, sinh viên có tâm lý e ngại, có thể trả lời không đúng thực tế. Việc thu thập phiếu khảo sát trực tuyến tự điền qua đường dẫn Google Form gửi về từng lớp không kiểm soát được mức độ tập trung và tính nghiêm túc của đối tượng khi hoàn thành bảng hỏi.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ các hạn chế trên bao gồm việc áp dụng thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để theo dõi biến thiên tâm lý của sinh viên qua các năm học, mở rộng cỡ mẫu đa trung tâm tại nhiều trường y dược trên cả nước, và kết hợp thang đo sàng lọc với phỏng vấn tâm thần học lâm sàng trực tiếp để đưa ra chẩn đoán chính xác.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu học thuật và quản trị giáo dục y khoa:
- Sinh viên y khoa và học viên sau đại học ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Tâm thần học: Có thể tham khảo phương pháp áp dụng công thức chọn mẫu phân tầng theo khối lớp bằng phần mềm WHO Sample Size 2.0, kỹ thuật sử dụng và quy đổi điểm thang đo DASS-21 bản tiếng Việt, cũng như cách thiết kế khung biến số dịch tễ học tâm lý.
- Cán bộ quản lý đào tạo và công tác học sinh sinh viên tại các trường y dược: Nắm bắt được các "điểm nóng" tâm lý theo từng năm học (năm thứ hai chịu áp lực chuyển giao mô hình đào tạo, năm thứ ba áp lực đi lâm sàng bệnh viện, năm thứ sáu áp lực tốt nghiệp và việc làm) để bố trí thời khóa biểu, lịch thi cử và các chương trình hỗ trợ tâm lý phù hợp.
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Chương 2 với quy trình tính toán mẫu phân tầng cụ thể cho 6 khối lớp và Chương 3 với hệ thống số liệu định lượng chi tiết về mối quan hệ gia đình, bạn bè, điều kiện tài chính và điểm số GPA liên hệ với các rối loạn tâm lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng công cụ nào để đo lường trầm cảm, lo âu và stress, và tiêu chí tính điểm ra sao?
Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS-21 (Depression – Anxiety – Stress Scale) rút gọn gồm 21 câu hỏi (mỗi trạng thái gồm 7 câu), đánh giá biểu hiện trong 1 tuần gần nhất trên thang điểm từ 0 đến 3. Tổng điểm của mỗi phân thang 7 câu được nhân đôi (quy về thang điểm từ 0 đến 42) rồi đối chiếu với bảng phân loại chuẩn để xác định các mức độ: bình thường, nhẹ, vừa, nặng và rất nặng.
2. Cỡ mẫu thực tế thu thập được là bao nhiêu và sinh viên khối nào tham gia khảo sát đông nhất?
Tổng cỡ mẫu thực tế thu thập được là 783 sinh viên (vượt cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 302). Trong đó, sinh viên năm thứ tư tham gia đông nhất với 176 sinh viên (chiếm 22,5% mẫu khảo sát và đạt tỷ lệ 64% tổng số sinh viên của khối này). Sinh viên năm thứ sáu tham gia ít nhất về số tuyệt đối với 42 sinh viên (chiếm 5,4% mẫu khảo sát, nhưng đạt 74% tổng số sinh viên khối sáu).
3. Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress chung trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện các rối loạn tâm lý ở các mức độ từ nhẹ đến rất nặng lần lượt là: lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,5% (466 sinh viên), tiếp theo là trầm cảm chiếm 53,4% (418 sinh viên), và stress chiếm 48,0% (376 sinh viên). Đa số các biểu hiện dừng ở mức độ nhẹ và vừa; tỷ lệ lo âu nặng và rất nặng lần lượt là 9,5% và 6,1%.
4. Sinh viên năm học nào có tỷ lệ biểu hiện lo âu và trầm cảm cao nhất?
Theo kết quả biểu đồ phân bố theo năm học, sinh viên năm thứ hai có tỷ lệ biểu hiện trầm cảm cao nhất (58,6%), trong khi năm thứ nhất thấp nhất (44,8%). Đối với biểu hiện lo âu, sinh viên năm thứ sáu ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 71,4%, trong khi sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ thấp nhất là 55,5%.
5. Tình trạng chỗ ở hiện tại và áp lực thi cử của sinh viên trong mẫu nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Về nơi ở, hơn một nửa số sinh viên phải thuê nhà trọ (52,6%), 21,5% sống cùng bố mẹ, 16,7% ở ký túc xá và 9,1% ở nhà người quen/họ hàng. Về học tập, 64,8% sinh viên không hài lòng với điểm thi; tỷ lệ sinh viên phải thi lại trong năm học qua là 12,4% (97 sinh viên), trong đó 56,7% thi lại 1 môn, 27,8% thi lại 2 môn và 15,5% phải thi lại trên 2 môn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thái Phương Nam đã phác họa rõ nét thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021-2022 với tỷ lệ biểu hiện lo âu đạt 59,5%, trầm cảm đạt 53,4% và stress đạt 48,0%. Nghiên cứu ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt về mức độ biểu hiện theo giới tính (nữ giới cao hơn nam giới) và theo từng giai đoạn đào tạo (sinh viên năm hai chịu trầm cảm cao nhất, sinh viên năm sáu chịu lo âu cao nhất). Dù tồn tại một số hạn chế nội tại của thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và phương thức thu thập bảng hỏi trực tuyến, công trình đã đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng quan trọng, đặt nền tảng cho các can thiệp hỗ trợ tâm lý học đường và điều chỉnh kế hoạch đào tạo y khoa phù hợp với thực tiễn.