ĐẶT VẤN ĐỀ Stress (căng thẳng) là trạng thái lo lắng hoặc căng thẳng tinh thần do một tình huống khó khăn gây ra. Lo âu là một phản ứng tự nhiên trước căng thẳng. Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi hay tự đánh giá thấp giá trị bản thân, rối loạn giấc ngủ hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tập trung [57], [64], [71]. Stress, lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khoẻ tâm lý thường gặp đang có xu hướng gia tăng đặc biệt là trong giới trẻ ở Việt Nam.
Stress, lo âu, trầm cảm, nếu không được phát hiện, can thiệp phù hợp sẽ dẫn đến hậu quả làm giảm năng suất lao động, học tập, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Y khoa là một trong những ngành học có nhiều áp lực so với các ngành học khác, đòi hỏi sinh viên phải dành nhiều thời gian học đặc biệt là thực hành trong y khoa rất phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật không được phép sai sót (vì liên quan đến tính mạng con người). Đồng thời áp lực học tập, thi cử, thời gian học kéo dài, gần như có rất ít thời gian nghỉ ngơi, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho sinh viên ngành y dễ căng thẳng (stress) và mắc bệnh lo âu, trầm cảm. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm rất cao ở sinh viên đại học và cao đẳng ở các nước phát triển và đang phát triển [71], [90].
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm và cộng sự năm 2015 về nguy cơ trầm cảm ở một số khối sinh viên đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng cho thấy có tới 46,9% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm [32]. Những yếu tố được xác định có liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên có thể là cuộc sống gia đình, môi trường học tập, sự hỗ trợ của bạn bè, người thân, thói quen sinh hoạt. Việc gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần có thể ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống, hiệu quả học tập và lao động của sinh viên. 2 Tại Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng, sinh viên đang phải đối mặt với nhiều áp lực từ học tập và cuộc sống.
Đặc biệt, năm nhất (thường đánh dấu sự thích nghi với môi trường học tập mới) và năm cuối (quyết định về việc tốt nghiệp và chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp) là hai giai đoạn quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên tại trường. Đây là thời gian mà sinh viên dễ đối mặt với tình trạng tăng căng thẳng, lo âu và có khả năng mắc bệnh trầm cảm. Vì vậy, thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến thực trạng lo âu, trầm cảm của đối tượng này? Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng căng thăng, lo âu và trầm cảm của sinh viên đang theo học tại trường. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng năm 2024” với hai mục tiêu nghiên cứu sau: 1.
Đánh giá thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress, lo âu và trầm cảm của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan 1.
Cannon lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học. Tuy nhiên, người có công lớn trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye (nhà sinh lý học người Canada). Ông đã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả triệu chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật (GAG). Selye Han đưa ra định nghĩa về stress, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng.
Đó là những phản ứng nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi. Vì vậy, tác giả Selye H. gọi đó là những phản ứng thích nghi. Tác giả Selye đã xác định được hậu quả y học của stress lên hệ thống miễn dịch, hệ thống dạ dày, ruột và các tuyến thượng thận [60], [64].
Heuser và cộng sự trong bài viết “Căng thẳng và bộ não” năm 2003 đã đưa ra một định nghĩa hữu ích mang tính thực hành: “Stress là bất cứ điều gì gây ra sự tăng tiết glucocorticoid” [63], [58]. Cùng với sự phát triển của Y học hiện đại, ngày càng có nhiều mối liên hệ giữa Stress và bệnh tật được chứng minh [15], [87], [89], [90]. Stress ở mức cao và kéo dài có thể dẫn đến những tác động tiêu cực. Khi stress vượt quá mức và kéo dài, việc đối phó với tác động của stress mãn tính có thể trở thành một thách thức [25], [73], [88].
Lo âu Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể, từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [49], [50], [85]. 4 Rối loạn lo âu, bao gồm rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn hoảng sợ/chứng sợ khoảng rộng và rối loạn lo âu xã hội, là các bệnh tâm thần phổ biến và thường liên quan đến gánh nặng sức khỏe tinh thần cao. Điều trị thường được chỉ định khi triệu chứng gây khó khăn rõ rệt hoặc gây ra các biến chứng [50], [55], [81]. Hậu quả của lo âu có thể đáng kể đối với tâm lý và thể chất.
Người bị lo âu thường trải qua căng thẳng, lo lắng liên tục, và cảm thấy mất kiểm soát. Điều này có thể dẫn đến sự suy giảm về tinh thần, vấn đề về giấc ngủ, và tác động xấu đến sức khỏe về mặt thần kinh và tim mạch. Điều quan trọng là tìm kiếm sự giúp đỡ và xử lý lo âu để cải thiện chất lượng cuộc sống và tinh thần [23], [54], [79]. Trầm cảm Rối loạn trầm cảm là một bệnh lý có các biểu hiện gây bất thường về cảm xúc và tâm trạng, sự suy yếu trong chức năng thần kinh tự động, các vấn đề về nhận thức và sự thay đổi trong hoạt động tâm thần và thể chất.
Đây là một trong những rối loạn tâm lý có lịch sử lâu đời nhất, được công nhận rộng rãi và được mô tả trong các tài liệu y học từ thời kỳ cổ đại của Hy Lạp [75]. Rối loạn trầm cảm chủ yếu được xác định bởi một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm, và để được chẩn đoán, người bệnh cần phải trải qua ít nhất 5 triệu chứng quan trọng, trong đó ít nhất một trong hai triệu chứng chính phải bao gồm khí sắc giảm và mất hầu hết sự hứng thú hoặc sở thích. Giai đoạn trầm cảm này phải kéo dài ít nhất 2 tuần [62], [76], [86], [87]. Người bị trầm cảm thường trải qua cảm giác tuyệt vọng, tách biệt, và mất sự hứng thú trong cuộc sống, dẫn đến sự suy giảm tinh thần và tạo ra tác động xấu đến sức khỏe về cả thể chất và tinh thần.
Điều quan trọng là nhận biết và điều trị trầm cảm kịp thời để ngăn ngừa những hậu quả nghiêm trọng này [77]. Một số biểu hiện nhận biết stress, lo âu, trầm cảm Năm 1621, tác giả Robert Burton đã mô tả các triệu chứng lo âu ở những người lo lắng về xã hội: “Nỗi sợ là nguyên nhân gây ra một số hiệu ứng đáng 5 phàn nàn ở con người, ví dụ như đỏ mặt, xanh xao, run rẩy, đồ mồ hôi; nó còn làm lạnh và nóng đột ngột khắp cơ thể, đánh trống ngực, ngất xỉu. Trước đó, Hippocrates đã mô tả một trong các bệnh nhân của ông, những người dường như đã mắc chứng bệnh mà ngày nay chúng ta gọi là "rối loạn lo âu xã hội": 4 "Anh ta không dám vào nơi làm việc vì sợ rằng mình bị lạm dụng, bị chán ghét, rằng anh ấy phải luôn vượt qua chính mình từ cử chỉ đến lời nói, hoặc sợ mình sẽ bị bệnh; anh ấy nghĩ rằng tất cả mọi người đang quan sát mình". Ngày nay, Tổ chức Y tế thế giới đã phân loại rối loạn lo âu nằm trong các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể [38], là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể.
Đây là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được, biểu hiện vững chắc, mạn tính và có thể xảy ra dưới dạng kịch phát. Các dạng rối loạn lo âu thường gặp bao gồm rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized anxiety disorder - GAD), rối loạn lo âu xã hội (Social Anxiety Disorder -SAD) và ám ảnh sự biệt định [40]. Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trinh ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần. Chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động.
Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), trầm cảm đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian cần thiết ít nhất là 2 tuần [38]. Những triệu chứng khác như giảm sự tập trung, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát cũng là các triệu chứng phổ biến. Ngoài ra còn các triệu chứng cơ thể khác như thức giấc sớm hơm ít nhất 2 giờ, trầm cảm nặng lên vào buổi sáng, sút cân (≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước.) - Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD - 10 (F32.-): + Lần đầu tiên xuất hiện ở bệnh nhân các triệu chứng lâm sàng đặc trưng, phổ biến và sinh học của trầm cảm. 6 + Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần.
+ Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30) ở bất kỳ thời điểm nào trong đời.