đặt vấn đề yêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập. Tình yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từ chối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương. Những biểu hiện của loại tình cảm này, nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều [11,17] Trong thời kỳ này thường xảy ra sự mất ổn định trong các chức năng của hệ giao cảm – nội tiết, nên thường thấy những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan như hay hồi hộp, tăng huyết áp, những rối loạn về thần kinh: 11 tính tình thay đổi, dễ lạc quan nhưng cũng dễ bi quan hay có những suy nghĩ bồng bột…Giai đoạn này trẻ thường ít bệnh tật hơn cả, tuy nhiên ý định tự tử, hành vi tự tử và các bệnh tâm thần lại xuất hiện nhiều [18]. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh THPT Các yếu tố nguy cơ của trẻ em và thanh thiếu niên được xem xét ở 4 cấp độ: cá nhân, gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ khác. Học sinh trung học phổ thông đều có tất cả những yếu tố đó, Học sinh lớp 10 là những em mới chuyển cấp, mới bắt đầu một chương trình học mới, bắt đầu suy nghĩ về tương lai những vấn đề xung quanh xuất hiện nhiều lên vì thế càng tăng thêm các yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm nếu các em không được chăm sóc sức khỏe tinh thần một các chu đáo. Cấp độ cá nhân Ở cấp độ cá nhân, có ba yếu tố nguy cơ chính đối với thanh thiếu niên, với một số khác biệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Thứ nhất, sự cô lập/tự cô lập về cảm xúc là căn nguyên quan trọng đối với thanh thiếu niên lựa chọn không chia sẻ cảm xúc với ai, thường do trẻ muốn bảo vệ cha mẹ khỏi những lo âu.
Với trẻ vị thành niên lớn hơn, đặc biệt là các em gái, cảm giác cô lập xã hội là hậu quả của kết hôn sớm. Với những em gái khác trong cùng độ tuổi thì sự cô lập xã hội đến từ việc nghỉ học ngoài ý muốn và/hoặc do gánh nặng công việc gia đình. Thứ hai dẫn đến những nguy cơ về sức khỏe tâm thần được cho là có liên quan tới việc tiếp cận các công nghệ hiện đại và những nguy cơ của các hành vi trực tuyến gây nghiện đối với những trẻ có xu hướng “sử dụng quá nhiều”. Các em trai có xu hướng chơi trò chơi điện tử nhiều hơn các em gái, nhưng các em gái có nguy cơ bị rình rập và bắt nạt trên mạng nhiều hơn.
Thứ ba liên quan đến những quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất vị thành niên. Những lo ngại bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở những em gái lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt hoặc những em bị coi là thừa cân. Những mối lo khác xoay quanh hình thể thấp bé, 12 dẫn đến việc bị chọc ghẹo, bêu tên và phân biệt đối xử trong các hoạt động thể thao tại trường học. Cấp độ gia đình Quy tắc quá nghiêm ngặt của gia đình, gia đình nghèo hoặc đang trong tình trạng kinh tế xã hội giảm sút, và những căng thẳng trong hộ gia đình được xác định là các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên.
Trẻ đối mặt với những kỳ vọng cao của cha mẹ, trẻ cũng sợ cha mẹ chỉ trích do bị điểm kém ở trường. Đối với những em thuộc giai đoạn giữa của lứa tuổi vị thành niên (trong khoảng từ 15 – 16 tuổi), “sự kiểm soát” của cha mẹ ví dụ như hạn chế trẻ ra ngoài với bạn, không chấp thuận các mối quan hệ tình cảm, kiểm soát việc sử dụng điện thoại di động, bắt trẻ ở nhà làm việc nhà, v. được xem là căn nguyên chính dẫn đến tình trạng căng thẳng ở trẻ. Gia đình nghèo hoặc đang trong tình trạng kinh tế – xã hội giảm sút cũng là yếu tố gây căng thẳng bởi trong những điều kiện như vậy, trẻ không có đủ thời gian học tập cũng như ít có điều kiện tham gia các lớp học thêm, dẫn đến kết quả học tập sa sút, thậm chí buộc phải thôi học.
Ngoài ra, kết hôn sớm, cũng đồng nghĩa với việc phải thôi học ở các em gái, cũng được xem như một trong những nguyên nhân dẫn đến nỗi buồn và trầm cảm cho các em. Áp lực gia đình muốn trẻ phải thể hiện xuất sắc ở trường, những xung đột trong hôn nhân, cha mẹ ly hôn, bạo lực gia đình từ phía người chồng, và thiếu giao tiếp giữa cha mẹ và con cái làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong hộ gia đình và từ đó tác động đến sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên. Cấp trường học Căng thẳng do học tập, thiếu sự hỗ trợ và/hoặc môi trường học đường bất ổn, và gặp trở ngại trong các mối quan hệ tình cảm là những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên. Trẻ tự đặt kỳ vọng rất cao đối với bản thân, phải vượt trội so với 13 bạn bè, và do áp lực của gia đình muốn các em đạt thành tích tốt.
Những bất ổn trong môi trường học đường hiện diện thông qua tệ bắt nạt và mâu thuẫn giữa bạn bè đồng trang lứa. Xa gia đình và ở nội trú trong trường cũng là tác nhân gây căng thẳng, tương tự như việc thiếu đi các hoạt động giải trí hoặc sự động viên khích lệ thường xuyên của thầy cô giáo. Các mối quan hệ tình cảm, thường bắt đầu trong môi trường học đường, gây cho trẻ những căng thẳng bởi một mặt trẻ phải giấu diếm cha mẹ và thầy cô giáo – những người sẽ ngăn cấm trẻ, và mặt khác, những đổ vỡ và tình yêu đơn phương mang đến cho trẻ nỗi buồn, trầm cảm và thậm chí đôi khi là ý định và hành vi tự tử. Cấp cộng đồng Dễ dàng tiếp cận các độc chất, hạn chế trong tiếp cận các cơ hội kinh tế chủ yếu liên quan đến các cơ hội việc làm, và những chuẩn mực xã hội mang tính tiêu cực được xác định là các yếu tố ở cấp cộng đồng có ảnh hưởng tiềm tàng đến sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên.
Các chuẩn mực có hại dường như phổ biến hơn ở khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi nghèo khó ở phía Bắc, và có ảnh hưởng nhiều hơn đến các em gái. Đó là những chuẩn mực về kết hôn sớm – khiến các em gái buộc phải thôi học khi còn ít tuổi, về những gì em gái nên làm, về cách các em nên cư xử, về trang phục các em nên mặc và về những vai trò trong gia đình mà các em cần phải đảm nhiệm [15]. Một số yếu tố khác Trong 2 năm gần đây đại dịch COVID – 19 không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe thể chất mà cả sức khỏe tinh thần của người dân. Học sinh, sinh viên là một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất.
Thực tế cho thấy, bên cạnh lo lắng về sự an toàn trong bối cảnh dịch bệnh, việc học tập trực tuyến kéo dài, thiếu sự tương tác với môi trường bên ngoài là những vấn đề mà học sinh, sinh viên cảm thấy áp lực nhất. Các em vừa phải trải qua thời gian biến chuyển tâm sinh lý lại vừa phải làm quen với việc chuyển đổi từ hình thức học trực tiếp sang gián tiếp, nhiều em điều kiện kinh tế gia đình trở nên khó khăn hơn, thậm chí có em còn mất cha mất mẹ do dịch bệnh, những sang chấn tâm lý là điều không thể tránh khỏi. Những tác động 14 tiêu cực của dịch bệnh dễ tạo nên cho các em biểu hiện căng thẳng tâm lý [20,21]. Các nghiên cứu đã được thực hiện về sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới và Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần đặc biệt là tình trạng trầm cảm ở học sinh khối trung học phổ thông.
Trên thế giới Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả Unsal Alaaddin nghiên cứu về tỷ lệ học sinh có triệu chứng trầm cảm ở học sinh trung học có 846 học sinh tham gia cuộc khảo sát. Trong nhóm nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ mắc trầm cảm là 30,7% (n = 260), 22,6% ở nam (n = 99) và 39,6% ở nữ (n = 161) [22]. Tại Đài Loan, tác giả Huang – chi Lin và cộng sự nghiên cứu về trầm cảm và mối liên quan của nó với lòng tự trọng, các yếu tố gia đình, bạn bè, trường học ở thanh thiếu niên. Kết quả là trong số 9586 người tham gia, tỷ lệ trầm cảm là 12,3%.
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm bao gồm: giới tính nữ, tuổi lớn hơn, cư trú ở khu vực thành thị, lòng tự trọng thấp, hôn nhân cha mẹ đổ vỡ, thu nhập gia đình thấp, xung đột gia đình, chức năng gia đình kém hơn, ít hài lòng với các mối quan hệ đồng đẳng, ít kết nối với trường học và kết quả học tập kém [23]. Tại Chandigarh, tác giả Sandal Raman Kumar nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở thanh thiếu niên đi học. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh DAS (trầm cảm, lo âu, căng thẳng) lần lượt là 65,53%; 80,85% và 47,02%. Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh đi kèm giữa trầm cảm và lo âu là 57,65%.
Rất ít trầm cảm nặng (3%). Tỷ lệ mắc DAS ở nữ cao hơn. Đối với chứng trầm cảm và lo lắng, độ tuổi đỉnh cao là 18 tuổi [24]. Một nghiên cứu về các nam sinh trung học tại Abha, Vùng Aseer, Ả Rập Xê Út.
Tác giả Al – gelban nghiên cứu này báo cáo về nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ phổ biến và mức độ nghiêm trọng của chứng trầm cảm, lo lắng và căng thẳng ở trẻ em trai vị thành niên Ả Rập Xê Út. Kết quả chỉ ra rằng trong số 1723 sinh viên nam được tuyển vào nghiên cứu này, 59,4% mắc ít 15 nhất một trong ba rối loạn, 40,7% mắc ít nhất hai và 22,6% mắc cả ba rối loạn. Hơn nữa, hơn một phần ba số người tham gia (38,2%) bị trầm cảm, trong khi 48,9% lo lắng và 35,5% bị căng thẳng. Trầm cảm, lo lắng và căng thẳng có mối tương quan chặt chẽ, tích cực và đáng kể [25].