Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa, phân loại RLTC 1. Định nghĩa: Thuật ngữ “rối loạn trầm cảm ” là biểu hiện của nhiều triệu chứng, đây là một rối loạn tâm thần thường gặp, đặc trưng bởi nỗi buồn, mất quan tâm hay niềm vui, cảm giác tội lỗi hay tự ti, ngủ ít hay bị rối loạn giấc ngủ, thèm hoặc chán ăn, giảm năng lượng và giảm sự tập trung. Những vấn đề này có thể trở thành mãn tính và hay tái phát, nó làm giảm khả năng của một cá nhân đối với công việc, học tập và sinh hoạt hàng ngày.
Hậu quả nghiêm trọng nhất là trầm cảm là một trong những nguyên nhân tự tử hàng đầu. Hầu hết các trường họp trầm cảm có thể được điều trị bằng thuốc hoặc nghiệm pháp tâm lý tâm lý [17]. Phân loại rối loạn trầm cảm 1. Phân loại theo các tiêu chuẩn lâm sàng: Trầm cảm có thể chỉ là một cơn trầm cảm gặp trong bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực, nhưng có thể là một cơn trầm cảm gặp trong bệnh trầm cảm.
Rối loạn cảm xúc bao gồm rối loạn trầm cảm (trầm cảm đơn cực), rối loạn lưỡng cực, loạn khí sắc, khí sắc chu kỳ. Ngoài ra còn có rối loạn cảm xúc do cơ thể bệnh và rối loạn cảm xủc do một chất. - Rối loạn trầm cảm nặng nghĩa là hiện tại (hoặc trong tiền sử) chỉ có các giai đoạn tràm cảm. Ví dụ bệnh nhân đã bị 3 cơn rối loạn cảm xúc, nhưng tất cả các cơn đều là trầm cảm.
Tiêu chuẩn chẩn đoán của trầm cảm nặng là phải kéo dài ít nhất là 2 tuần và trong đó có ít nhất 1 trong 2 triệu chứng quan trọng là: Khí sắc trầm cảm và mất hứng thú hoặc sở thích cho hầu hết các hoạt động. Ngoài ra còn bệnh nhân còn có ít nhất 4 triệu chứng trong số 7 triệu chứng sau: - Mất cảm giác ngon miệng - Mất ngủ hoặc bệnh nhân ngủ quá nhiều - Rối loạn hoạt động tâm thần vận động 5 - Giảm sút năng lượng - Cảm giác vô dụng - Khó suy nghĩ, tập trung hoặc ra quyết định - Ý nghĩa muổn chết hoặc có hành vi tự sát - Trầm cảm nhẹ và trung bình có đặc điểm lâm sàng giống trầm cảm nặng, tuy nhiên các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn. Tiêu chuẩn chẩn đoán là bệnh nhân không có quá 4 triệu chứng giống như trầm cảm nặng trong đó có ít nhất một trong hai triệu chứng: khí sắc trầm cảm diễn ra hàng ngày và mất hứng thú và sở thích diễn ra hầu như hàng ngày - Rối loạn lưỡng cực nghĩa là hiện tại (hoặc trong tiền sử) có các gia đoạn hưng trầm cảm pha trộn (hưng cảm và trầm cảm xuất hiện cùng một lúc), thường hưng cảm nhẹ phối hợp với các giai đoạn trầm cảm nặng (hiện tại hoặc đã có trong tiền sử). Rối loạn lưỡng cực được chia thành rối loạn lưỡng cực I và rôi loạn lưỡng cực II.
- Rổi loạn lưỡng cực I đặc trưng bởi một hay nhiều giai đoạn hưng trầm cảm hoặc các giai đoạn pha trộn, có thể phối họp với các giai đoạn trầm cảm nặng - Rối loạn lưỡng cực II đặc trưng bởi một hay nhiều giai đoạn trầm cảm nặng, phối họp ít nhất với một giai đoạn hưng cảm nhẹ - Loạn khí sắc là một nhóm nhỏ của rối loạn cảm xúc, phát triển mãn tính, có ít nhất 2 năm mang một số triệu chứng trầm cảm nhưng ở cường độ thấp (lưu ý với trẻ VTN khí sắc có thể bị kích thích và thời gian cần ít nhất là 1 năm) nhưng không thỏa mãn các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm nặng. Đặc điểm nổi bật là khởi phát sớm (thường trước 21 tuổi) có các đặc điểm sau: - Giảm cảm giác ngon miệng hoặc ăn nhiều - Mất ngủ hoặc ngủ nhiều - Giảm năng lượng hoặc mệt mỏi - Giảm tự tin - Giảm tập trung và khó quyết định - Cảm giác mất hy vọng 6 Bệnh khởi phát sớm có nguy cơ cao phát triển thành trầm cảm nặng hoặc rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Khoảng 20% loạn khí sắc sẽ tiến triển thành trầm cảm nặng, 15% số bệnh nhân sẽ thành rối loạn lưỡng cực I và 5% sẽ thành rối loạn lưỡng cực II. Khoảng 25% số bệnh nhân loạn khí sắc không bao giờ đạt được sự hồi phục hoàn toàn.
Tiêu chuẩn chẩn đoán là khí sắc trầm cảm phần lớn trong ngày, duy trì ít nhất trong 2 năm (lưu ý với trẻ VTN khí sắc có thể bị kích thích và thời gian cần ít nhất là 1 năm). Biểu hiện trong giai đoạn trầm cảm có 2 hoặc hơn trong số 6 triệu chứng trên. - Rối loạn khí sắc chu kỳ chỉ được đặt ra khi có ít nhất 2 năm của một sổ giai đoạn hưng trầm cảm nhẹ (không thỏa mãn các tiêu chuẩn cho giai đoạn hưng cảm) và một số giai đoạn của các triệu chứng trầm cảm (không thỏa mãn cho các tiêu chuẩn của trầm cảm nặng) - Rối loạn lưỡng cực không biệt định khác như rối loạn có yếu tố lưỡng cực nhưng không thỏa mãn các tiêu chuẩn cho một triệu chứng nào của rối loạn lưỡng cực I, II. - Rối loạn cảm xúc do bệnh cơ thể đặc trưng bởi rối loạn bền vững và nổi bật của khí sắc do một bệnh cơ thể gây ra.
Tiêu chuẩn chẩn đoán nếu như loạn khí sắc được coi là kết quả sinh lý trực tiếp của bệnh cơ thể, thường là bệnh mạn tính. Neu như coi các triệu chứng trầm cảm không phải là hậu quả của bệnh cơ thể thì khi đó chẩn đoán là loạn khí sắc tiên phát. - Rối loạn cảm xúc do một chất đặc trưng bởi một rối loạn bền vững và nổi bật là khí sắc, do ma túy hoặc thuốc gây ra và được coi là bệnh sinh trong liên quan với loạn khí sắc. Loạn khí sắc này hay gặp trong nghiện rượu, nghiện cocain, cần sa.
Khi sử dụng các chất gây nghiện lâu năm bệnh nhân sẽ có bệnh cảnh lâm sàng của loạn khí sắc [5]. Phân loại trầm cảm theo các đặc trưng của bệnh: Trầm cảm theo mùa Yếu tố nhấn mạnh được xây dựng dựa trên khởi phát và lui bệnh của trầm cảm nặng trong một giai đoạn có đặc trưng của năm. Nhiều chức năng cơ thể như 7 sự điều chỉnh nhiệt độ và tiết nội tiết tố phụ thuộc vào chu kỳ sinh học nhất định được gọi là nhịp sinh học, phụ thuộc vào mùa và thời gian trong ngày. Những nhịp điệu có thể có xu hướng thúc đẩy sự phát triển của bệnh trầm cảm.
Bên cạnh các triệu chứng điển hình của trầm cảm, bệnh nhân bị tràm cảm theo mùa đặc trưng bởi mất năng lượng, ngủ quá nhiều, thích ăn nhiều chất hydrat carbon và tăng cân. Tỷ lệ của yếu tố theo mùa khác nhau theo vĩ độ, tuối và giới: tuổi trẻ có nguy cơ cao và nữ giới có nguy cơ cho các gia đoạn trầm cảm theo mùa. Trầm cảm sau sinh Giai đoạn sau sinh thường tăng nguy cơ trầm cảm cho phụ nữ, biểu hiện các triệu chứng của một giai đoạn trầm cảm nặng, hưng cảm hoặc pha trộn và có the bao gồm các triệu chứng loạn thần. Phụ nữ có tiền sử cá nhân hay gia đình trầm cảm hoặc rối loạn tâm trạng khác sẽ có nguy cơ cao hơn.
Khí sắc không ổn định và giao động thường gặp sau khi sinh, khi có các hoang tưởng thì thường tập trung vào đứa trẻ (thường là đứa trẻ có một số bộ phận đặc biệt). Bệnh nhân có thể có ý tưởng tự sát, ý định dùng bạo lực với đứa trẻ, thiếu tập trung và kích động tâm thần. Người phụ nữ có các giai đoạn trầm cảm sau đẻ thường có rối loạn lo âu nghiêm trọng, các cơn tấn công hoảng sợ, hay làm ầm ĩ trong nhiều thời gian này (3-7 ngày sau đẻ), mất thích thú đứa con mới đẻ của mình, mất ngủ. Trầm cảm ở trẻ em và trẻ vị thành niên Trầm cảm VTN là một rối loạn xảy ra trong những năm thiếu niên, và liên quan đến nỗi buồn đang diễn ra, chán nản trong cuộc sổng và học tập, mất giả trị bản thân, và mất quan tâm đến hoạt động bình thường.
Hơn 90% số trường hợp trầm cảm ở tuổi VTN sẽ tái phát cơn trầm cảm nặng trong vòng 1 -2 năm sau. Trước đây người ta cho rằng trẻ em và thanh thiểu niên không có khả năng mắc phải các triệu chứng trầm cảm và do đó không thể bị trầm cảm. Có thể là nhiều trường hợp trầm cảm ở trẻ em như có các rối loạn hành vi, sợ đi học. Sau đó các cuộc điều tra về tâm thần ở trẻ em có các vấn đề về sức khỏe tâm thần, cũng như là các vụ tự tử ở trẻ em đã chỉ ra rằng trầm cảm là một bệnh khá phổ biển trong thời thơ ấu.
Tuy nhiên, có một thực tế là một số lượng lớn các trẻ em và thanh thiếu niên 8 bị trầm cảm có liên quan đến các rổi loạn tâm thần khác như lo âu, rối loạn hành vi và lạm dụng ma túy [5]. Biểu hiện trầm cảm lứa tuổi VTN giống như người lớn song có một số biểu hiện khác như khí sắc dễ kích thích nên biểu hiện các rối loạn hành vi, cảm giác mất ngon miệng, mất ngủ nhiều hơn và khó tập trung, trí nhớ sút kém. Sau đây là các triệu chứng thường gặp trong RLTC ở trẻ VTN [12]: - Rối loạn hành vi (Đánh nhau, bỏ học, hút thuốc lá.) - Thay đổi khẩu vị trong ăn uống (có cảm giác mất ngon, chán ăn) - Hành vi tộ phạm (như ăn cắp, ăn trộm) - Tâm trạng chán nản hoặc dễ cáu kỉnh - Khó tập trung - Khó đưa ra quyết định - Các giai đoạn rối loạn mất trí nhớ - Ngủ quá nhiều hoặc buồn ngủ ban ngày - Hành vi vô trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và nhà trường - Cảm giác tội lỗi - Quan hệ với gia đình và bạn bè không tốt - Thành tích học tập kém - Mệt mỏi - Cảm giác bản thân không có giá trị, buồn bã, thù hận - Mất quan tâm đến các hoạt động - Khó ngủ hoặc mất ngủ - Có kế hoạch tự tử hoặc đã đã từng tự tử - Lo lắng cho tương lai - Giảm niềm vui trong hoạt động hàng ngày - Lạm dụng các chất gây nghiện - Hay kích động - Ám ảnh sợ hãi hoặc lo lắng về cái chết - Trọng lượng thay đổi (giảm cân không chủ ý hoặc đạt được). 9 Trầm cảm ở người già Khoảng 20% người trên 60 tuổi có một số triệu chứng trầm cảm, nhưng chỉ có 5% những người cao tuổi có đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.