chương 1 cũng đã trình bày giả thuyết các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của HS THPT trên địa bàn thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày về quy trình, phương pháp nghiên cứu. Xác định các biến và xây dựng thang đo.
Nêu lên phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tuyến tính bội. Đồng thời, trình bày phương pháp kiểm định đánh giá sự khác biệt của các nhóm đặc điểm cá nhân với nhân tố độc lập ý định chọn trường. Kết quả nghiên cứu. Trình bày tổng quan về học sinh trên địa bàn Tp Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, những thông tin đặc điểm của mẫu nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu.
Qua thống kê mô tả mẫu khảo sát, đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha, 4 phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trưởng. Từ đó, đi đến bàn luận các kết quả nghiên cứu. Kết luận và đề xuất. Ở chương này sẽ bàn luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố và ảnh hưởng của chúng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT trên địa bàn Tp Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.
Từ đó đề xuất các giải pháp để ngành giáo dục tỉnh Bình Thuận và các trường đại học, cao đẳng có những phương pháp tư vấn tuyển sinh, tuyển sinh cho học sinh lớp 12 vào đại học được hiệu quả hơn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Học sinh THPT Theo Luật Giáo dục Việt Nam năm 2006 (Luật Giáo dục số 38/2005QH11 có hiệu lực ngày 01/01/2006, mục 2, điều 26), giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học từ lớp 10 đến lớp 12.
HS vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là 15. Trong nghiên cứu này, đối tượng học sinh (HS) THPT là các em HS đang học lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học phổ thông và chuẩn bị dự thi vào đại học. Như vậy HS lớp 12 có thể được xem là khách hàng tiềm năng của dịch vụ giáo dục bậc đại học. Với đối tượng này, có tuổi khoảng 18 với tâm sinh lý của người chuẩn bị trưởng thành nên cũng có nhiều điểm phức tạp trong tâm lý, chẳng hạn: thích tự khẳng định mình, bị ảnh hưởng của bạn bè, các cá nhân khác,… 2.
Giáo dục và giáo dục đại học Theo từ điển Giáo Dục Học Việt Nam năm 2001 thì giáo dục là “nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu, chuẩn bị cho đối tượng tham gia vào lao động sản xuất và đời sống xã hội”. Giáo dục đại học là nền giáo dục được cung cấp bởi các trường đại học (đại học nghề, đại học cộng đồng, đại học khoa học xã hội, đại học kỹ thuật…). Giáo dục đại học bao gồm công tác giảng dạy, nghiên cứu và các hoạt động dịch vụ xã hội liên quan đến lĩnh vực giảng dạy, giáo dục đại học bao gồm các bậc đại học và sau đại học. Chọn trường đại học Theo Nguyễn Minh Hà (2011) khái niệm chọn trường đại học được định nghĩa là một “Quá trình phức tạp, đa giai đoạn.
Trong đó, một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục được giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một quyết định theo học một trường đại học, cao đẳng cụ thể hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến”. 6 Với các em HS lớp 12, trước khi chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông trung học thường được nhà trường, gia đình, người thân, thầy/cô giáo,…tư vấn cho việc chọn trường đại học dự thi tương ứng với một ngành nghề nào đó phù hợp với năng lực, sở thích của bản thân; thông thường thỏa một số tiêu chí sau: sở thích, năng lực, chỉ tiêu tuyển, điểm chuẩn, vị trí địa lý nhà trường, nhu cầu xã hội về ngành nghề, việc làm khi ra trường, điều kiện kinh tế gia đình, uy tín trường đại học,…Sau đó làm các thủ tục đăng ký dự thi. Trong nghiên cứu này, khái niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn trường đại học để đăng kí dự thi sau khi tốt nghiệp THPT của các em HS lớp 12. Hướng nghiệp Tùy theo đặc trưng của mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học, có thể có những quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Trong nghiên cứu này, hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp lực lượng xã hội, lấy nền tảng của hệ thống sư phạm làm trung tâm nhằm giúp cho các HS có sự hiểu biết cơ bản về ngành nghề trong xã hội. Từ đó, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức về nghề nghiệp trong tương lai (Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006). Tư vấn hướng nghiệp Tư vấn hướng nghiệp là một quá trình họat động tích cực, tự giác của HS dưới sự hướng dẫn của nhà trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội để giúp HS tìm hiểu về các ngành nghề trong xã hội và chọn được ngành nghề phù hợp cho bản thân trong tương lai (Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006). Chọn trường Các em HS lớp 12 trước khi chuẩn bị tốt nghiệp thường được nhà trường, gia đình,người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và học lực.
Trong nghiên cứu này, khái niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn trường đại học, cao đẳng (học viện) để đăng ký dự thi và theo học sau khi tốt nghiệp THPT. Lựa chọn ngành nghề đào tạo Việc lựa chọn ngành nghề của HS là một quá trình lâu dài và phức tạp, nó được biểu hiện ở những mức độ khác nhau ngay từ những lớp đầu của bậc THCS, ngày càng 7 phát triển dần và hoàn thiện dần ở cấp bậc THPT, nhất là ở lớp cuối cấp ba (lớp 12) của bậc THPT. Quá trình chọn lựa này gồm những đặc tính sau: Tính chủ thể: đối với HS THPT, quá trình lựa chọn ngành nghề được diễn ra với nhiều sự chi phối của những mối quan hệ xã hội phức tạp như: gia đình, bạn bè, thầy cô giáo, trường lớp, đoàn thể, các tổ chức xã hội,…Những mối quan hệ này tác động đến nhận thức, nhu cầu, động cơ, sự hứng thú của HS. Tuy nhiên, để đi đến một quyết định lựa chọn ngành nghề cho tương lai là do chính chủ thể đưa ra và tự khẳng định (Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006).
Tính khách thể: Quá trình lựa chọn ngành nghề là sự kết hợp giữa nhu cầu, nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do ngành nghề và xã hội đòi hỏi (không phải bất cứ ngành nghề nào cũng được xã hội chấp nhận). Trong xã hội, mỗi cá nhân có một vị trí xác định. Với vị trí đó, cá nhân vừa được hưởng quyền lợi cũng như phải có trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm trong việc lựa chọn ngành nghề được biểu hiện qua mối quan hệ giữa nguyện vọng cá nhân với đòi hỏi về số lượng và chất lượng mà nhu cầu về nguồn lực trong các lĩnh vực mà ngành nghề đòi hỏi (Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006).
Khi đó, chủ thể của sự lựa chọn trở thành đối tượng của sự lựa chọn. Tính cấu trúc: Trong quá trình tồn tại và phát triển, quá trình lựa chọn ngành nghề là một bộ phận, mắc xích trong cấu trúc đời sống con người. Khi xác định một hướng đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội là lúc con người ta lựa chọn ngành nghề. Quá trình lựa chọn ngành nghề được đặt trong một hệ thống các mối quan hệ giữa chủ thể (người lựa chọn) và những điều kiện khách quan có mối quan hệ trực tiếp đối với ngành nghề (Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006).
Thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) (Homans, 1961) Thuyết này cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn một cách hợp lý nhằm đạt được kết quả tối ưu với chi phí tối thiểu. Thuyết này được biểu diễn theo công thức toán như sau: C = P x V = Max. 8 Công thức trên được diễn đạt như sau: khi lựa chọn trong số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách mà họ cho là (C) là kết quả của tích số giữa xác suất thành công của hành động đó (P) với giá trị phần thưởng của hành động đó (V). Còn theo John Elster (dẫn theo Lê Ngọc Hùng, 2009) “Khi đối diện với một số hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”.
Thuyết lựa chọn duy lí đòi hỏi phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó. Những yếu tố tác động đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh (Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006): Đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách Hoạt động học tập: như đã nói, HS THPT có tuổi từ 15 đến 18. Ở lứa tuổi này, kinh nghiệm sống của các em ngày càng phong phú, các em cũng đã nhận thức được mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do đó thái độ nhận thức học tập ngày càng chín chắn hơn trong việc lựa chọn đối với các môn học gắn với khuynh hướng chọn ngành nghề trong tương lai.
Thái độ học tập của các em được thúc đẩy bởi động cơ học tập khác với lứa tuổi trước đó, cụ thể nhất là động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, ý nghĩa xã hội rồi mới đến động cơ khác. Chính thái độ học tập có ý thức, đã hình thành tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của các em trong hoạt động học tập cũng như việc lựa chọn ngành nghề cho tương lai. Sự phát triển của trí tuệ: ở HS THPT, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgic trừu tượng và ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.