CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nếu như khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (TNXHDN) là tương đối mới mẻ và chỉ được đề cập đến nhiều từ những năm 1950 trở lại đây thì ngược lại, sự quan tâm đến những hậu quả nảy sinh từ các hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung đã có từ rất lâu trên thế giới (Capron và Quairel-Lannoizelee, 2009). Nói một cách khác, nhu cầu về việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp không phải là một khái niệm mới.
2 Những ghi chép của người Trung Hoa, người Ai Cập và người Xume cổ đại đã phác họa những quy tắc giao thương để thúc đẩy thương mại và đảm bảo rằng lợi ích của cộng đồng rộng lớn được quan tâm. Kể từ đó, mối quan tâm của công chúng đến sự tương tác giữa doanh nghiệp và xã hội ngày càng phát triển cùng với sự phát triển các hoạt động của doanh nghiệp. Từ thế kỷ thứ 17, người ta đã quan tâm đến sự phát triển quá lớn của các 3 Công ty Đông Ấn và những hệ lụy của sự phát triển đó đối với xã hội. Những bằng chứng về các hoạt động xã hội phản kháng lại những hành động của các tổ chức cũng đã trải dài qua nhiều thế kỷ, phản chiếu sự phát triển về mặt pháp lý và thương mại của các công ty khi chúng tự tạo cho mình trở thành một lực lượng thúc đẩy các xã hội dựa trên thị trường.
Bắt đầu từ đầu thập niên 1950, những nghiên cứu học thuật chính thức về TNXHDN đầu tiên được công bố. Thuật ngữ TNXHDN xuất hiện chính thức lần đầu tiên năm 1953 trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của tác giả Howard Rothmann Bowen nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. 9 Từ đó đến nay, thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nghĩa của từ TNXHDN có thể được hiểu từ nghĩa của ba từ chứa đựng trong cụm từ này: trách nhiệm, xã hội và doanh nghiệp.
Theo Capron và Quairel- Lanoizelee (2009), khi nói đến từ “trách nhiệm”, doanh nghiệp cần trả lời được câu hỏi “Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về cái gì, đến ai, liên quan đến đâu và như thế nào?” Với câu hỏi “chịu trách nhiệm với ai?”, có thể có nhiều câu trả lời rất khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm về doanh nghiệp và vị trí của doanh nghiệp trong xã hội. Đối với Friedman, doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm với các cổ đông mà thôi bởi vì vai trò của doanh nghiệp là phải tối đa hóa lợi nhuận vì lợi ích chung của các cổ đông. Kiểu trả lời thứ hai, theo Liên minh châu Âu, doanh nghiệp phải quan tâm đến những cá nhân hoặc nhóm có thể bị tác động bởi các hoạt động của mình, hoặc những nhóm, cá nhân có thể có ảnh hưởng đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Cách trả lời thứ ba cho rằng doanh nghiệp phải có trách nhiệm với lợi ích chung của cộng đồng.
Hiện nay khi các vấn đề về lợi ích chung đã vượt khỏi biên giới của các nhà nước quốc gia thì vấn đề đóng góp của doanh nghiệp vào lợi ích chung cần được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhưng vấn đề này cho đến nay mới chỉ có những phác thảo hay những kinh nghiệm hạn chế về các cơ chế điều tiết. Câu hỏi “có trách nhiệm về điều gì?” đề cập đến những tiêu chí mà dựa vào đó người ta sẽ đánh giá xem một doanh nghiệp nào đó có trách nhiệm về mặt xã hội hay không. Các tiêu chí này là hết sức đa dạng khiến cho việc đánh giá khó mang tính khách quan, bởi vì người lượng giá không thể không bị tác động bởi các giá trị riêng của mình cũng như vị trí của anh ta trong các mối quan hệ xã hội, hoặc các lợi ích của các tổ chức mà anh ta là thành viên. “Doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã hội đến mức nào?” Biên độ giới hạn về TNXHDN có thể đi từ không đến vô cực.
Không thể có câu trả lời phổ quát và vĩnh viễn cho câu hỏi này. Phạm vi của TNXHDN có thể thay đổi qua các thời kỳ, tùy theo mong đợi và áp lực của các xã hội dân chủ, và câu trả lời có thể cũng rất khác nhau tùy theo thành phần của những người có liên quan. Cuối cùng, các câu trả lời cho câu hỏi này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa, lịch sử và các định chế của mỗi quốc gia. 1 Bên cạnh từ “trách nhiệm”, để hiểu rõ phạm trù TNXHDN, thì “xã hội” cần được hiểu như thế nào? Hiện nay, việc sử dụng từ “xã hội” trong cụm từ “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” đang được hiểu theo nghĩa xã hội phổ quát, nghĩa là bao trùm mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Đối với từ “doanh nghiệp” trong phạm trù TNXHDN, câu hỏi đặt ra ở đây là doanh nghiệp là thực thể nào và ở phạm vi nào? Cho đến nay, việc xác định thế nào là một doanh nghiệp chưa bao giờ là việc dễ dàng. Trong ngôn ngữ Anh-Mỹ, từ corporation (doanh nghiệp) thường được dùng để nói về các doanh nghiệp có quy mô lớn. Nếu hiểu doanh nghiệp theo nghĩa hẹp như vậy thì không thể bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn có rất nhiều tại Châu Âu mà đặc biệt là tại Pháp. Nhưng điều này vẫn không giải quyết được vấn đề ranh giới giữa các tổ chức và vấn đề phạm vi của thực thể doanh nghiệp: nhóm, công ty, công ty gia công, mạng lưới công ty.
Đó là chúng ta còn chưa nói đến việc đánh giá TNXHDN ngày càng chú trọng vào các mạng lưới sản xuất, các chuỗi giá trị, các dự án lớn kết nối hàng chục doanh nghiệp với nhau, thậm chí là toàn bộ những ngành kinh tế. Phạm vi trách nhiệm phụ thuộc phần lớn vào cách mà doanh nghiệp xem mình thuộc về lĩnh vực ảnh hưởng nào. Như vậy, TNXHDN xác định xã hội là một phạm trù rộng, gồm nhiều cấp độ, bao gồm tất cả các bên liên quan và nhóm phần tử có mối quan tâm thường xuyên đến các hoạt động của tổ chức đó. Tổng quan các công trình nghiên cứu về chủ đề TNXHDN đã cho thấy có sự đa dạng khá lớn các quan niệm về TNXHDN.1 tổng hợp các định nghĩa phổ biến về TNXHDN đã được phát triển từ những năm 1950 đến nay.1: Các định nghĩa về TNXHDN STT Tác giả/năm Định nghĩa Nghĩa vụ của doanh nhân là theo đuổi các chính sách, ra các Bowen 1 quyết định hay thực hiện những hành động phù hợp với các (1953) mục tiêu và các giá trị của xã hội.
Trách nhiệm xã hội – “những quyết định và hành động của Davis 2 doanh nhân vì những lý do mà ít nhất cũng một phần nào đó (1960) vượt trên lợi ích trực tiếp về kinh tế và kỹ thuật của doanh 1 STT Tác giả/năm Định nghĩa nghiệp” Trách nhiệm xã hội nghĩa là các doanh nhân cần giám sát được hoạt động của một hệ thống kinh tế nhằm thỏa mãn các kỳ vọng của công chúng. Điều này có nghĩa là quá trình sản xuất và phân phối phải tăng cường được tổng phúc lợi Frederick ích kinh tế - xã hội. Suy cho cùng, trách nhiệm xã hội đề cập 3 (1960) đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế và con người sao cho các nguồn lực đó được sử dụng cho những mục đích xã hội to lớn chứ không đơn thuần phục vụ cho những lợi ích hạn hẹp của một số những cá nhân hay doanh nghiệp nào đó. Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ của một cá nhân phải xem xét ảnh hưởng của những quyết định và hành động của anh Davis và ta đến toàn bộ hệ thống xã hội.
Doanh nghiệp cũng áp dụng 4 Blomstrom trách nhiệm xã hội khi nó cân nhắc tới những nhu cầu và lợi (1966) ích của những đối tượng bị ảnh hưởng bởi hoạt động kinh doanh. Như vậy có nghĩa là doanh nghiệp nhìn vượt ra khỏi những lợi ích hạn hẹp về kinh tế và kỹ thuật của mình. Trách nhiệm xã hội duy nhất của doanh nghiệp là gia tăng Friedman lợi nhuận vì xã hội sẽ được lợi nhiều nhất khi các doanh 5 (1970) nghiệp tập trung tối đa hóa sự thành công về mặt tài chính của họ. Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội là doanh nghiệp mà những người quản lý nó biết cân bằng giữa các lợi ích đa Johnson chiều.
Thay vì cố gắng để đạt được lợi nhuận lớn hơn cho 6 (1971) các cổ đông, một doanh nghiệp có trách nhiệm cũng sẽ cân nhắc đến những người lao động, nhà cung ứng, đại lý, cộng đồng địa phương và quốc gia. Steiner Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế nhưng nó có những 7 (1971) trách nhiệm giúp đỡ xã hội đạt được các mục tiêu cơ bản và 1 STT Tác giả/năm Định nghĩa vì vậy, nó có trách nhiệm xã hội. Công ty càng lớn thì trách nhiệm càng lớn, nhưng tất cả các công ty đều có thể làm được những trách nhiệm này mà không mất chi phí mà thậm chí còn có lợi nhuận trong ngắn và dài hạn. Đây là một triết lý hướng đến lợi ích xã hội và lợi ích của doanh nghiệp trong dài hạn thay cho cách nhìn hạn hẹp và lạc hậu đến lợi ích cá nhân trong ngắn hạn.
Doanh nghiệp là một thể chế tồn tại để phục vụ xã hội, Hội đồng tương lai của một doanh nghiệp là kết quả trực tiếp của việc Phát triển quản trị doanh nghiệp hiệu quả như thế nào để đáp ứng các 8 kinh tế (CED) kỳ vọng luôn thay đổi của công chúng. Trách nhiệm của một (1971) doanh nghiệp là đóng góp vào chất lượng cuộc sống chứ không đơn thuần chỉ là cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Trách nhiệm của một doanh nghiệp là đánh giá trong các quá trình ra quyết định của nó những ảnh hưởng đến hệ Davis 9 thống xã hội theo cách thức nào đó sao cho đạt được những (1973) lợi ích xã hội cùng với những lợi ích kinh tế truyền thống mà doanh nghiệp kiếm tìm. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là nghĩ đến nó như “tình hàng xóm tốt”.
Cách Eilbert và hiểu này có hai giai đoạn.