Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp mới của nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về TNXH của doanh nghiệp, Niềm tin của khách hàng và giả thuyết nghiên cứu Trình bày về các khái niệm, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước và tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu. Chương 3:Thiết kế nghiên cứu Trình bày khái quát về các ngân hàng thương mại Việt Nam, cách thức xây dựng thang đo và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 4:Kết quả nghiên cứu Trình bày và diễn giải kết quả của nghiên cứu định lượng.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TNXH CỦA DOANH NGHIỆP, NIỀM TIN CỦA KHÁCH HÀNG VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về TNXH của doanh nghiệp.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp : Có thể nói rằng trách nhiệm xã hội( TNXH) của doanh nghiệp là một khái niệm có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Khái niệm về trách nhiệm xã hội đã bắt đầu nhen nhóm xuất hiện trong các nghiên cứu ở những năm 30 của thế kỷ trước như những nghiên cứu Chester Barnard’s (1938), J. Nhưng có lẽ, người đặt nền móng đầu tiên cho khái niệm này là Howard R. Bowen (1953), ông đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng đầu tiên về trách nhiệm xã hội “Nó thể hiện nghĩa vụ của các nhà kinh doanh khi theo đuổi các chính sách , đưa ra các quyết định hoặc tuân theo các đường lối mà họ mong muốn, dựa trên mục tiêu và giá trị của xã hội”.
Nhờ những lập luận sắc bén, đánh dấu khái niệm hiện đại đầu tiên về TNXH của Bowen (1953) , tác giả Archie B. Carroll trong nghiên cứu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Sự phát triển của một cấu trúc định nghĩa” đã gọi Bowen là “ cha đẻ của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp”. Trong suốt các năm sau của thế kỷ 20, các nghiên cứu về TNXH đã dần phát triển, định nghĩa về TNXH của doanh nghiệp cũng trở nên cụ thể và rõ ràng hơn. Cho tới những năm 90 của thế kỷ 20, Archie B.
Carroll đã xây dựng mô tả CSR thông qua hình ảnh dưới dạng kim tự tháp. Chuyên gia về TNXH ( CSR) , Tiến sĩ Wayne Visser đã nói rằng “Kim tự tháp CSR của Carroll có lẽ là mô hình CSR nổi tiếng nhất ” (Visser, 2006). Chỉ cần truy cập vào Google Hình ảnh và tìm kiếm từ khóa “Carroll’s Kim tự tháp CSR” sẽ nhận được kết quả hơn 100 biến thể và bản sao của mô hình kim tự tháp cùng với hơn hơn 5200 trích dẫn. Định nghĩa bốn phần của Carroll về TNXH được phát biểu như sau: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các trách nghiệm về kinh tế, khía cạnh pháp lý, đạo đức và khía cạnh thiện nguyện …” (Carroll, 1979, 1991) 6 Hình 2.1: Kim tự tháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Nguồn : Carroll 1979) Tuy nhiên, trong khóa luận này, tác giả sẽ chỉ phân tích khái niệm TNXH doanh nghiệp dựa trên 3 khía cạnh phi kinh tế: đạo đức, pháp lý và thiện nguyện.
Bởi trong giai đoạn thế kỷ 21 và 22, đã có nhiều nghiên cứu về TNXH áp dụng Cấu trúc 3 khía cạnh này (García de los Salmones và cộng sự, 2005; Pérez và cộng sự, 2013, Zia Khan, 2014). Các nghiên cứu đã loại trừ khía cạnh kinh tế khỏi phân tích vì ảnh hưởng của nó đối với ý định của khách hàng đã khiến học giả nghi ngờ (Aupperle và cộng sự, 1985; Maignan và Ferrell, 2001; García de los Salmones và cộng sự, 2005). Aupperle và cộng sự. (1985) kết luận rằng nhận thức CSR có thể được đo lường bằng ba thành phần phi kinh tế kể trên.
Họ nhận thấy rằng khía cạnh kinh tế có tương quan nghịch với các thành phần này. Do đó, khách hàng không coi trách nhiệm kinh tế là một phần của CSR. Maignan và Ferrell (2001) cho rằng 7 khách hàng thường loại trừ khía cạnh kinh tế khỏi cấu trúc CSR. García de los Salmones et al.
(2005) thực nghiệm chứng minh rằng khía cạnh kì vọng kinh tế của các công ty được coi là một yếu tố độc lập.2 Các lý thuyết về TNXH của doanh nghiệp : Các trách nghiệm về kinh tế được nhắc đến trong khái niệm phần 2.1 bao gồm tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông, thu được giá trị cao nhất cho các khoản đầu tư, thiết lập một vị thế cạnh tranh và duy trì mức hiệu quả hoạt động cao v. Các khía cạnh đạo đức bao gồm các hoạt động của công ty được xã hội mong đợi, nhưng không được hệ thống hóa trong các quy tắc pháp lý (Schwartz và Carroll, 2003) Các khía cạnh thiện nguyện bao gồm các hoạt động như quyên góp cho các hoạt động từ thiện, tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hoặc tài trợ cho các hoạt động văn hóa (Carroll, 1979). Theo lý thuyết chủ sở hữu (shareholder theory) về quản trị doanh nghiệp, mục tiêu của nhà quản lý là mang lại lợi ích cho chủ sở hữu, khi đó họ cho rằng, sự thịnh vượng của xã hội được tối đa hóa chỉ khi mà tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều tối đa hóa giá trị của mình Ngược lại, những người theo học thuyết người có liên quan (stakeholder theory) lại cho rằng, các doanh nghiệp nên “có trách nhiệm đối với tất cả những người có liên quan”, như theo Freeman ( 1984) TNXH nên được đề xuất như mục tiêu chính của công ty.Như vậy, những người khuyến khích việc thực hiện CSR là những người đi theo học thuyết người có liên quan, ở đó, họ nhận thấy rằng, “lợi ích liên tục và mang tính tồn tại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng thực hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội được thiết lập và phân bổ sự thịnh vượng hoặc giá trị đủ để đảm bảo rằng mỗi nhóm người có liên quan cấp 1 là một phần của hệ thống người có liên quan của doanh nghiệp. Đồng thời, việc tăng cường thực hiện CSR có thể dẫn đến gia tăng về lợi nhuận tài chính bằng việc giúp các doanh nghiệp phát triển các tài sản vô hình nhưng có giá trị như danh tiếng, hình ảnh, khả năng thu hút nhà đầu tư, giảm chi phí vốn, tăng cường mong muốn làm việc lâu dài của nhân viên và phát triển mối quan hệ với cộng cồng cũng 8 như lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Một nghiên cứu mang tên “Lý thuyết quan trọng và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” của Timothy R Kuhn & Stanley Deetz (2008) cho rằng Bài báo này xem xét trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) từ góc độ của lý thuyết phản biện. Nó bắt đầu bằng cách lập luận rằng các giá trị định hình các quyết định của công ty theo ba cách chung: lựa chọn của người quản lý, thói quen và quy trình lập luận; quy định của chính phủ, các biện pháp khuyến khích, cấu trúc thuế và giám sát; và lựa chọn tiêu dùng trong hệ thống thị trường. Nó cho thấy rằng, một mình và chung, các 'địa điểm' này về cơ bản yếu về khả năng tạo ra CSR lớn hơn theo nghĩa các giá trị và quy trình lý luận đa dạng hơn. Các quan hệ quyền lực được thể chế hóa…Trách nhiệm với với xã hội sinh ra cùng với doanh nghiệp vì một doanh nghiệp hoạt động đều ít nhiều đóng góp cho xã hội.
Nhưng việc hiểu rõ về khái niệm TNXHDN qua đó các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ những trách nhiệm của mình với xã hội và tác giả Howard Rothmann Bowen chính là người đặt viên gạch đầu tiên cho việc nghiên cứu TNXHDN và sau đó có rất nhiều học giả đã đưa ra những quan điểm về TNXHDN. Suy cho cùng, trách nhiệm xã hội đề cập đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế và con người sao cho các nguồn lực đó được sử dụng cho những mục đích xã hội to lớn chứ không đơn thuần phục vụ cho những lợi ích hạn hẹp của một số những cá nhân hay doanh nghiệp nào đó. Hội đồng Phát triển kinh tế đưa ra quan điểm cho rằng: Doanh nghiệp là một thể chế tồn tại để phục vụ xã hội, tương lai của một doanh nghiệp và kết quả trực tiếp của việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả như thế nào để đáp ứng các kŒ vọng luôn thay đổi của công chúng. Trách nhiệm của một doanh nghiệp là đóng góp vào chất lượng cuộc sống chứ không đơn thuần chỉ là cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
Nhưng một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Ahmad Al Jarah và các cộng sự với đề tài “ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thực sự làm tăng chất lượng mối quan hệ với khách hàng? Một bài đánh giá phân tích tổng hợp” (2018) lại cho rằng với mục đích là kiểm tra tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đối với chất lượng mối quan hệ khách hàng (RQ) dựa trên ba khía cạnh chính của RQ, đó là, sự hài lòng, sự tin tưởng và cam kết. Một phân tích tổng hợp định lượng 80 kích thước hiệu ứng duy nhất được báo cáo trong 60 bài báo (n = 27.805) đã được thực hiện để xác định kích thước ảnh hưởng của mối quan hệ giữa 9 CSR và các khía cạnh RQ của khách hàng. Hơn nữa, sự phát triển kinh tế đã được coi là yếu tố điều tiết tiềm năng giữa CSR và RQ. Phân tích tổng hợp cho thấy rằng mối quan hệ tích cực giữa CSR và ba khía cạnh được nghiên cứu của RQ được thiết lập tốt; tuy nhiên, sức mạnh của các mối quan hệ được nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về độ lớn.
Cam kết của khách hàng bị ảnh hưởng bởi CSR (r = 56) nhiều nhất, theo sau là sự tin tưởng của khách hàng (r = 0,52), trong khi sự hài lòng của khách hàng (r = 0,44) bị ảnh hưởng ít nhất. Hơn nữa, kết quả của hồi quy meta cho thấy sự phát triển kinh tế chỉ điều chỉnh một mối quan hệ duy nhất là CSR và lòng tin.Trình bày tóm tắt hướng nghiên cứu cơ bản về mối quan hệ giữa CSR và RQ, vì cho đến nay chưa có phân tích tổng hợp nào về mối quan hệ chính được thực hiện (theo hiểu biết tốt nhất của các tác giả). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, nhưng ở Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức.