Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khoẻ của con người từ thực tiễn của tỉnh Hải Dương" do nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Tài thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tất Viễn, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019, thuộc ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (Mã số: 9.04).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Điều 3 Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới năm 1948 và hiến định tại Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe". Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ sức khỏe của công dân, trong đó pháp luật hình sự là công cụ sắc bén và hữu hiệu.
Về mặt thực tiễn, trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương có nhiều chuyển biến tích cực nhưng tình hình tội phạm diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người. Thống kê giai đoạn 2006 - 2018 ghi nhận trên địa bàn tỉnh Hải Dương xảy ra 882 vụ với 1.186 người phạm tội xâm phạm sức khỏe con người. Tội phạm cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ, sử dụng hung khí nguy hiểm chiếm trên 90% tổng số các vụ án thuộc nhóm tội này. Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn chậm trễ; tỷ lệ tội phạm ẩn còn cao; việc xử lý chủ yếu tập trung vào tội cố ý gây thương tích trong khi các tội danh khác chưa được phát hiện và xử lý kịp thời; nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất.
Về mặt lý luận, các công trình khoa học luật hình sự trước đây chủ yếu tiếp cận nhóm tội xâm phạm sức khỏe dưới góc độ phân tích dấu hiệu pháp lý, định tội danh, quyết định hình phạt hoặc phòng ngừa tội phạm ở góc độ tội phạm học đối với từng tội danh đơn lẻ. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với toàn bộ nhóm các tội xâm phạm sức khỏe con người dưới góc độ khoa học luật hình sự kết hợp nghiên cứu thực tiễn áp dụng liên tục trong 13 năm (2006 - 2018) trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người; đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội này qua số liệu thực tiễn tại tỉnh Hải Dương; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh, xử lý loại tội phạm này trong tình hình mới.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu chính:
- Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của TNHS (khái niệm, đặc điểm, cơ sở của TNHS, các hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người).
- Phân tích các quy định của pháp luật về TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người trong lịch sử pháp luật Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2018.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người và các biện pháp bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chế định TNHS đối với các tội phạm xâm phạm sức khỏe của con người trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng chế định TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người dưới góc độ luật hình sự.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực tiễn và các bản án hình sự thu thập trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành rà soát, phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Sách chuyên khảo, giáo trình: Sách chuyên khảo "Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên, 1997); sách chuyên khảo "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người" của PGS.TS Trần Văn Luyện; bộ sách tham khảo "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự của con người" của Đinh Văn Quế; "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)" do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2014); "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)" do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên (2001, tái bản 2007); "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)" do PGS.TS Cao Thị Oanh chủ biên (2010, tái bản 2012).
- Luận án tiến sĩ nghiên cứu về nhóm tội xâm phạm sức khỏe: Luận án tiến sĩ luật học "Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Duy Hữu (2018, bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xét xử trên địa bàn cả nước trong giai đoạn 2007 - 2016.
- Luận văn thạc sĩ: Luận văn thạc sĩ luật học "Các tội xâm phạm sức khỏe của con người theo Luật Hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" của tác giả Tào Duy Tùng (2014, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu thực tiễn xét xử tại Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2013.
- Các luận án tiến sĩ nghiên cứu về chế định TNHS theo từng nhóm tội: Luận án của Lê Thị Hồng Thương (2016) về tội bạo lực gia đình; Nguyễn Văn Tính (2016) về tội phạm chức vụ; Dương Thành An (2011) về tội phạm môi trường; Nguyễn Chí Công (2016) về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Nguyễn Kim Chi (2016) về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; Nguyễn Mạnh Hùng (2004) về chế định TNHS; Cao Thị Kim Oanh (2008) về nguyên tắc phân hóa TNHS; Trịnh Tiến Việt (2008) về chế định miễn TNHS.
- Bài viết chuyên san: Các bài báo của TS Lê Thị Sơn (1996, 1997, 2002), Phạm Mạnh Hùng (2005), Trần Minh Hưởng (2011), PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2001) trên Tạp chí Luật học và Tạp chí Kiểm sát bàn về cơ sở pháp lý của TNHS, miễn TNHS, phân biệt các tội danh cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Luận án tiến sĩ luật học của Đặng Quang Phương (1990, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Tashkent, Liên Xô/Uzbekistan) về trách nhiệm đối với tội giết người theo luật hình sự Việt Nam (BLHS 1985), có phân biệt với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.
- Sách chuyên khảo quốc tế: "Criminal Law" của Stephen A. Diamond, Kit Kinports và Thomas H. Morawetz (1994, Hoa Kỳ); "Criminal Law: Theory and doctrine" của AP Simester và GR Sullivan (2003, Anh); "Criminal Law" của Joycelyn M. Pollock (Hoa Kỳ); "Droit pénal spécial - infractions du Code pénal" của Michèle-Laure Rassat (2014, Pháp); "Crimes Against Health and Safety" của N. Frank (Hoa Kỳ); "La protection pénale de la personne humaine" của Jean-Paul Doucet (1994, Pháp); "Contemporary Criminal Law: Concepts, cases and controversies" của Matthew Lippman; các giáo trình Luật hình sự của Liên bang Nga (1996).
Khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận dấu hiệu cấu thành tội phạm hoặc phân tích một tội danh cụ thể (chủ yếu là tội cố ý gây thương tích), hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ tội phạm học (biện pháp phòng ngừa bạo lực). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đồng bộ về chế định TNHS đối với toàn bộ nhóm các tội xâm phạm sức khỏe con người trong mối quan hệ giữa lý luận, lịch sử lập pháp, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xét xử 13 năm tại tỉnh Hải Dương; đối chiếu các vướng mắc của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 với các điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Phương pháp luận triết học: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả vận dụng các nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển; các cặp phạm trù: cái chung - cái riêng, bản chất - hiện tượng, nội dung - hình thức, nguyên nhân - kết quả, khả năng - hiện thực, tất nhiên - ngẫu nhiên; các quy luật mâu thuẫn, lượng - chất và phủ định của phủ định để phân tích mối quan hệ giữa các tội xâm phạm sức khỏe với các nhóm tội khác, mối liên hệ giữa thực tiễn tư pháp hình sự với hoạt động lập pháp hình sự.
- Khung lý thuyết tiếp cận đa ngành về quyền con người: Tiếp cận quyền được bảo hộ sức khỏe dưới lăng kính của Luật học (chuẩn mực quốc tế và pháp luật quốc gia), Chính trị học (tương quan quyền lực và chính sách nhân quyền), Triết học (bản chất con người và quan hệ xã hội), Văn hóa học (tập quán và bối cảnh ứng xử), Xã hội học (tác động thực tế của quy phạm pháp luật) và Kinh tế học (điều kiện phát triển và cách tiếp cận dựa trên quyền). Sử dụng khái niệm sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): trạng thái hoàn chỉnh về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích tài liệu: Hệ thống hóa lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và nghiên cứu các bản án hình sự của TAND hai cấp tỉnh Hải Dương, báo cáo tổng kết của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu về các vụ án, bị cáo phạm tội xâm phạm sức khỏe tại Hải Dương và toàn quốc giai đoạn 2006 - 2018.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Đánh giá kết quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về TNHS đối với nhóm tội này trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật của Pháp, Liên bang Nga, Anh, Hoa Kỳ nhằm rút ra kinh nghiệm hoàn thiện quy định pháp luật.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên môn của các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và các nhà nghiên cứu pháp luật hình sự.
- Phương pháp điều tra điển hình: Thu thập, mổ xẻ các vụ án cụ thể, phức tạp điển hình xảy ra tại Hải Dương.
- Các phương pháp logic: Quy nạp, diễn dịch, phân tích quy phạm và logic pháp lý.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ (trước 1945, giai đoạn 1945 - 1985, BLHS 1985, BLHS 1999 sửa đổi 2009, BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
- Dữ liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2018 (882 vụ án / 1.186 người phạm tội).
- Báo cáo nghiệp vụ, thống kê định kỳ của Công an tỉnh Hải Dương và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2018.
- Số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2006 - 2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 1 tổng hợp, phân loại và đánh giá sâu sắc các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người. Tác giả chỉ ra rằng các tài liệu giáo trình chuẩn tại các cơ sở đào tạo luật trong nước đã thống nhất xác định nhóm tội này gồm các điều từ Điều 104 đến Điều 110, Điều 117 và Điều 178 thuộc Chương XII BLHS năm 1999 (tương ứng với các điều từ Điều 134 đến Điều 140, Điều 148, Điều 149 thuộc Chương XIV BLHS năm 2015).
Chương 1 xác định 5 nội dung trọng tâm cần tiếp tục giải quyết trong luận án:
- Làm sáng tỏ lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức của TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người dưới góc độ tiếp cận quyền con người.
- Nghiên cứu quá trình lập pháp hình sự Việt Nam và đối chiếu với pháp luật hình sự một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn cả nước và tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 13 năm (2006 - 2018).
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về nhóm tội này.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn tư pháp hình sự.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khoẻ của con người
Chương 2 tập trung phân tích bản chất pháp lý của chế định TNHS và áp dụng riêng cho nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người.
- Về khái niệm và đặc điểm TNHS: Luận án tổng hợp các trường phái lý luận (TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi; TNHS là quan hệ pháp luật phát sinh từ khi tội phạm được thực hiện; TNHS bắt đầu từ khi khởi tố bị can; TNHS là việc áp dụng hình phạt). Tác giả phân tích và chỉ ra sự bất hợp lý của quan điểm coi TNHS bắt đầu từ khi áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc khởi tố bị can, khẳng định biện pháp ngăn chặn chỉ là biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chứ không phải là sự thể hiện nội dung TNHS. TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội thông qua bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
- Về cơ sở của TNHS: Phân tích cơ sở triết học và cơ sở pháp lý. Cơ sở pháp lý duy nhất của TNHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm do Bộ luật Hình sự quy định, do người có đủ năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.
- Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con người: Tác giả đưa ra định nghĩa: "Các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội, do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm sức khỏe của con người mà theo quy định của luật hình sự phải xử lý bằng chế tài hình sự".
- Bốn đặc điểm pháp lý cơ bản của nhóm tội:
- Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại cho sức khỏe con người thể hiện qua tỷ lệ thương tật hoặc làm suy giảm chức năng cơ thể.
- Hành vi phải được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự.
- Chủ thể là cá nhân có năng lực TNHS và đủ độ tuổi luật định; một số tội danh đòi hỏi chủ thể đặc biệt (người thi hành công vụ hoặc người mà nạn nhân bị lệ thuộc).
- Lỗi là dấu hiệu bắt buộc (lỗi cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý do quá tự tin, vô ý do cẩu thả hoặc hỗn hợp lỗi như cố ý gây thương tích dẫn đến chết người).
- Khái niệm TNHS đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người: Là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc thực hiện các tội xâm phạm sức khỏe con người, thể hiện ở bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
- Các hình thức TNHS: Hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (án treo), miễn hình phạt, áp dụng biện pháp tư pháp và mang án tích.
Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người
Chương 3 tái hiện lịch sử phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về bảo vệ sức khỏe con người và so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế:
- Thời kỳ trước năm 1945: Trình bày các quy định xử lý hành vi đánh người, gây thương tích trong Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật thời Hậu Lê) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn), chỉ ra cách thức phân hóa hình phạt dựa trên mức độ thương tật và quan hệ thân tộc, địa vị xã hội; thời kỳ Pháp thuộc với các bộ luật áp dụng ở ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
- Thời kỳ từ năm 1945 đến nay:
- Giai đoạn 1945 - 1985: Các Sắc lệnh, Chỉ thị và Thông tư hướng dẫn trừng trị các hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể công dân.
- Giai đoạn BLHS 1985: Lần đầu tiên pháp điển hóa nhóm tội xâm phạm sức khỏe trong một chương riêng biệt của Bộ luật Hình sự.
- Giai đoạn BLHS 1999 (sửa đổi 2009): Mở rộng và phân hóa cụ thể trách nhiệm hình sự tại Chương XII.
- Giai đoạn BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): Quy định tại Chương XIV với nhiều sửa đổi, bổ sung về cấu thành định tội, định khung hình phạt, lượng hóa tỷ lệ tổn thương cơ thể thay cho khái niệm tỷ lệ thương tật.
- Pháp luật một số nước trên thế giới: Nghiên cứu quy định của Cộng hòa Pháp (phân chia nhóm tội xâm phạm thân thể và xâm phạm tinh thần), Liên bang Nga, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ (phân biệt giữa tội tấn công - assault và hành hung - battery). Rút ra các bài học về kỹ thuật mô tả tội danh và phân hóa khung hình phạt.
Chương 4: Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khoẻ từ thực tiễn của tỉnh Hải Dương và một số kiến nghị
Chương 4 phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2006 - 2018 và chỉ ra những vấn đề vướng mắc thực tiễn.
- Thực tiễn xét xử tại Hải Dương (2006 - 2018): Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Hải Dương đã khởi tố, điều tra, xét xử 882 vụ với 1.186 bị cáo phạm các tội xâm phạm sức khỏe con người. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm áp đảo (hơn 90% tổng số vụ).
- Danh mục các bảng số liệu thống kê được luận án xây dựng và phân tích:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng số liệu thống kê trong luận án |
| Bảng 4.1 |
Các vụ án về tội XPSK của con người đã khởi tố điều tra, xét xử so với tổng số án hình sự của tỉnh Hải Dương, giai đoạn (2006 - 2018) |
| Bảng 4.2 |
Các tội xâm phạm sức khỏe con người đã xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tỉnh Hải Dương và cả nước giai đoạn (2006 - 2018) |
| Bảng 4.3 |
Cơ cấu các tội phạm cụ thể trong tổng số án các tội xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn cả nước và tỉnh Hải Dương, giai đoạn (2006 - 2018) |
| Bảng 4.4 |
Phân tích các hình thức phạt được áp dụng đối với các tội XPSK của con người trên địa bàn cả nước (2006 - 2018) |
| Bảng 4.5 |
Phân tích các hình thức phạt được áp dụng đối với các tội XPSK của con người từ thực tiễn tỉnh Hải Dương (2006 - 2018) |
| Bảng 4.6 |
Phân tích cơ cấu hình phạt tù có thời hạn đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Hải Dương (2006 - 2018) |
- Các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng:
- Quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại: BLHS 2015 quy định 05 tội danh chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại tại khoản 1 các Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích), Điều 135 (Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), Điều 136 (Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội), Điều 137 (Tội vô ý gây thương tích), Điều 138 (Tội vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính) và Điều 139 (Tội vô ý gây thương tích trong khi thi hành công vụ), dẫn đến tình trạng bị hại rút đơn do thỏa thuận bồi thường hoặc bị đe dọa, gây khó khăn cho việc xử lý triệt để hành vi côn đồ.
- Bất cập về giám định tỷ lệ thương tật: Thời gian giám định kéo dài, căn cứ xác định tỷ lệ thương tật còn nhiều quan điểm trái chiều, dẫn đến án quá hạn điều tra, truy tố, xét xử.
- Thiếu văn bản hướng dẫn áp dụng các tình tiết định tính: Chưa có hướng dẫn giải thích rõ ràng các tình tiết: "người già yếu", "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác", "trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân", "phòng vệ chính đáng".
- Hệ thống kiến nghị của luận án:
- Kiến nghị hoàn thiện lập pháp: Tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015 nhằm khắc phục các khoảng trống pháp lý, chuẩn hóa các khái niệm định tính.
- Kiến nghị về hướng dẫn áp dụng: Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các tình tiết định tính, định khung hình phạt trong nhóm tội xâm phạm sức khỏe.
- Kiến nghị về tổ chức thực hiện: Nâng cao chất lượng hoạt động giám định pháp y; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương; bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về khái niệm, đặc điểm, cơ sở và các hình thức của TNHS đối với nhóm các tội xâm phạm sức khỏe của con người trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
- Luận chứng sâu sắc việc bảo vệ sức khỏe con người bằng công cụ luật hình sự dưới góc độ tiếp cận quyền con người và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
- Hệ thống hóa toàn diện lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về nhóm tội xâm phạm sức khỏe từ thời kỳ phong kiến, thời kỳ thuộc Pháp, giai đoạn 1945 - 1985, BLHS 1985, BLHS 1999 (sửa đổi 2009) đến BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
-
Về mặt thực tiễn:
- Xây dựng hệ thống dữ liệu và phân tích thực tiễn xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm sức khỏe con người tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương trong suốt 13 năm (2006 - 2018) với 882 vụ án và 1.186 bị cáo.
- Chỉ ra bức tranh thực tế về cơ cấu tội phạm: tội cố ý gây thương tích chiếm trên 90%, trong khi các tội danh khác chưa được phát hiện và xử lý tương xứng.
- Phát hiện các vướng mắc pháp lý và thực tiễn trong quy trình khởi tố theo yêu cầu bị hại đối với 05 tội danh ở khoản 1 các Điều 134 đến Điều 139 BLHS 2015, vấn đề giám định thương tích và việc nhận thức các tình tiết định tính.
- Đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương cũng như cả nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Số liệu thực tiễn và các bản án phân tích trong luận án được khoanh vùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2006 - 2018; phần lớn các vụ án được xét xử trong giai đoạn này áp dụng theo BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) do BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá thực tiễn thi hành toàn diện các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố khác hoặc trên quy mô toàn quốc trong các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự; giảng viên tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật; các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân); các nhà lập pháp và cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách hình sự.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Chương 2 cung cấp hệ thống luận cứ lý luận về phân định TNHS, cơ sở của TNHS và các hình thức TNHS đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe.
- Chương 3 cung cấp tư liệu lịch sử lập pháp Việt Nam và tư liệu luật hình sự so sánh của Pháp, Nga, Anh, Hoa Kỳ.
- Chương 4 cung cấp hệ thống 6 bảng số liệu thống kê thực tế về cơ cấu tội phạm, hình thức phạt tù có thời hạn tại Hải Dương và toàn quốc (2006 - 2018), cùng các kiến nghị tháo gỡ vướng mắc trong giám định thương tích và giải thích tình tiết định tính.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2006 - 2018, trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã xét xử bao nhiêu vụ án và người phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người?
Theo số liệu thống kê trong luận án, trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2018, trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã xảy ra, khởi tố điều tra và xét xử 882 vụ án với 1.186 người phạm tội xâm phạm sức khỏe của con người.
2. Tội danh nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm các tội xâm phạm sức khỏe tại tỉnh Hải Dương?
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS 1999 / Điều 134 BLHS 2015) chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm hơn 90% tổng số các vụ án xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
3. BLHS năm 2015 quy định bao nhiêu tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm sức khỏe chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở khoản 1?
Luận án chỉ ra có 05 tội danh thuộc nhóm này chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại theo quy định tại khoản 1 các điều gồm: Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 137, Điều 138 và Điều 139 BLHS năm 2015.
4. Những tình tiết định tính nào chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất được luận án nêu ra?
Các tình tiết gồm: "người già yếu", "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác", "trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân", "phòng vệ chính đáng".
5. Luận án đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Luận án sử dụng các phương pháp: phân tích tài liệu, thống kê - phân tích - so sánh số liệu, tổng kết thực tiễn, so sánh pháp luật, phương pháp chuyên gia, điều tra điển hình, cùng các phương pháp logic pháp lý (quy nạp, diễn dịch, phân tích quy phạm).
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Huy Tài đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người và hệ thống hóa lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam cũng như kinh nghiệm quốc tế. Thông qua việc phân tích số liệu thực tiễn 882 vụ án và 1.186 bị cáo tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2018, luận án đã đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra các vướng mắc về giám định thương tích, khởi tố theo yêu cầu bị hại và các tình tiết định tính. Các kết quả nghiên cứu và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.