Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thái Bình đã thụ lý và xét xử sơ thẩm 5.097 vụ án hình sự với 9.939 bị cáo. Trong đó, nhóm tội phạm xâm phạm sức khỏe con người chiếm tỷ lệ 8,6% về số vụ (438 vụ) và 7,9% về số bị cáo (785 bị cáo). Cùng thời kỳ, Cơ quan Cảnh sát điều tra trên địa bàn tỉnh đã thụ lý điều tra 452 vụ án (chiếm 9,8% tổng số vụ vi phạm pháp luật hình sự) và khởi tố 792 bị can (chiếm 11,2% tổng số bị can toàn tỉnh). Đáng chú ý, các vụ án xâm phạm sức khỏe chiếm tới 79,3% tổng số vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người tại địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hoạt động định tội danh đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, gắn liền với thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Thái Bình. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về định tội danh, đánh giá khách quan thực trạng định tội danh đúng và sai của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Thái Bình giai đoạn 2012 đến tháng 6 năm 2017, nhận diện nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn tỉnh Thái Bình và khung thời gian 5 năm 6 tháng (2012 - tháng 6/2017), đặt trong bối cảnh chuyển giao giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ý nghĩa nghiên cứu hướng đến mục tiêu giảm thiểu tối đa tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung (thực tế chiếm khoảng 3% đến 5% ở các vụ việc phức tạp), bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hiện thực hóa quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khỏe được quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận khoa học luật hình sự về định tội danh được phát triển bởi các chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam, tiêu biểu là quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Lê Cảm và Giáo sư Võ Khánh Vinh. Theo đó, định tội danh là quá trình tư duy logic và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự cũng như tố tụng hình sự nhằm xác định sự phù hợp chính xác giữa các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Mô hình nghiên cứu dựa trên hệ thống 4 yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Khách thể của tội phạm: Quan hệ nhân thân về quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người đang sống.
  • Mặt khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động), hậu quả tổn hại sức khỏe đã được lượng hóa dưới dạng tỷ lệ thương tật (từ 11% trở lên hoặc dưới 11% kèm các tình tiết định tội cụ thể), và mối quan hệ nhân quả tất yếu.
  • Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 14 tuổi hoặc đủ 16 tuổi theo Điều 12 Bộ luật Hình sự).
  • Mặt chủ quan: Trạng thái tâm lý của người phạm tội thể hiện qua hình thức lỗi (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả), động cơ và mục đích phạm tội.

Ba khái niệm cốt lõi được phân tích sâu bao gồm: Định tội danh chính thức (hoạt động của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán làm phát sinh hậu quả pháp lý tố tụng), Định tội danh không chính thức (đánh giá học thuật trong nghiên cứu lý luận), và Phân loại cấu thành tội phạm (cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng, cấu thành giảm nhẹ). Cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm nhóm 07 tội danh quy định từ Điều 134 đến Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định bổ trợ tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 127, Điều 155, Điều 206).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu toàn diện gồm 452 vụ án với 792 bị can trong giai đoạn điều tra, cùng 438 vụ án với 785 bị cáo được Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đưa ra xét xử sơ thẩm trong thời gian từ năm 2012 đến tháng 6 năm 2017. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) trên toàn địa bàn tỉnh Thái Bình, giúp bao quát 100% các vụ án hình sự về xâm phạm sức khỏe đã thụ lý và giải quyết, loại bỏ sai số chọn mẫu và bảo đảm độ tin cậy tuyệt đối cho các kết luận khoa học.

Các phương pháp phân tích chủ yếu bao gồm:

  • Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, tổng hợp và phân loại số liệu thụ lý, điều tra, truy tố, xét xử qua hệ thống sổ sách của Công an, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • Phương pháp phân tích hồ sơ vụ án: Đọc, trích xuất và đối chiếu trực tiếp các bản cáo trạng, bản án hình sự sơ thẩm để đánh giá quy trình xác định cấu thành tội phạm.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm chỉ ra các điểm mới như việc bổ sung tình tiết sử dụng axit nguy hiểm hay hình phạt tiền đối với tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch logic: Xâu chuỗi các sai sót cá biệt trong thực tiễn để rút ra nguyên nhân mang tính hệ thống.

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định lượng (số liệu thống kê) và phân tích định tính (hồ sơ án thực tế), tạo tiền đề vững chắc cho việc đưa ra các kiến nghị lập pháp và áp dụng pháp luật có tính khả thi cao. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 5 năm 6 tháng thu thập số liệu và hoàn thiện công trình vào năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tội phạm xâm phạm sức khỏe con người chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu tội phạm xâm phạm nhân thân tại tỉnh Thái Bình. Số liệu thống kê chỉ ra rằng trong tổng số 570 vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được điều tra thì có tới 452 vụ xâm phạm sức khỏe (chiếm 79,3%), với 792 bị can trên tổng số 973 bị can (chiếm 81,4%).

Thứ hai, về phân hóa cấu thành tội phạm trong thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã xét xử 239 vụ với 398 bị cáo theo cấu thành tội phạm cơ bản (chiếm 54,6% tổng số vụ xâm phạm sức khỏe). Trong khi đó, số vụ án xét xử theo cấu thành tội phạm tăng nặng là 199 vụ với 387 bị cáo (chiếm 45,4% tổng số vụ). Điều này phản ánh tính chất nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của các hành vi phạm tội trên địa bàn tỉnh luôn ở mức cao.

Thứ ba, việc áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng tập trung chủ yếu vào 3 trường hợp điển hình:

  • Tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm": Chiếm khoảng 62% trong số các vụ án định khung tăng nặng, người phạm tội chủ yếu dùng dao phay, kiếm, tuýp sắt, mã tấu để gây thương tích từ 11% đến 30% (thuộc khoản 2 Điều 134) hoặc dưới 11% nhưng vẫn bị khởi tố (khoản 1 Điều 134).
  • Tình tiết "có tính chất côn đồ": Chiếm khoảng 24% các vụ án tăng nặng, phát sinh từ những xích mích nhỏ nhặt trong đời sống thường ngày.
  • Tình tiết "tái phạm nguy hiểm": Chiếm khoảng 14% các vụ án tăng nặng, người phạm tội chưa được xóa án tích về tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do cố ý nhưng tiếp tục gây án.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện hai điểm nghẽn lớn dẫn đến định tội danh sai hoặc bế tắc tố tụng: Tình trạng người bị hại từ chối giám định thương tích (chiếm khoảng 8% đến 10% các vụ việc khởi tố theo yêu cầu) và sai phạm trong quy trình trưng cầu giám định lại thương tật khi không có mâu thuẫn chuyên môn rõ ràng.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các bảng thống kê và biểu đồ phân tích cơ cấu, có thể thấy rõ xu hướng biến động phức tạp của các vụ án cố ý gây thương tích. Biểu đồ diễn tiến số vụ án qua các năm 2012 - 2017 cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ các mâu thuẫn bộc phát truyền thống sang việc sử dụng hung khí có tính sát thương cao và thủ đoạn manh động. Bảng phân loại cấu thành tội phạm cho thấy tỷ lệ vụ án áp dụng khoản 2 Điều 134 (cố ý gây thương tích định khung tăng nặng) có xu hướng tăng nhanh hơn so với khoản 1.

Nguyên nhân dẫn đến việc định tội danh đúng trong phần lớn các vụ án (trên 90%) là nhờ các cơ quan tố tụng tại Thái Bình đã tuân thủ nghiêm ngặt quy trình 3 bước: xác định tình tiết khách quan, nhận thức đúng điều luật, và đối chiếu sự đồng nhất giữa hành vi với cấu thành tội phạm. Điển hình như vụ án tại huyện Thái Thụy, Viện kiểm sát đã kịp thời rút bỏ tình tiết "có tính chất côn đồ" đối với bị cáo Nguyễn Thị Lan khi nhận thấy hành vi chỉ mang tính bột phát, chuyển về xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 134, bảo đảm đúng tính chất pháp lý. Tương tự, vụ án Nguyễn Văn Thưởng tại huyện Tiền Hải dùng dao phay chém người gây thương tích 4% đã được định tội chính xác vào khoản 2 Điều 134 nhờ áp dụng chuẩn xác tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm".

Tuy nhiên, nguyên nhân định tội sai và vướng mắc tố tụng xuất phát từ:

  • Người bị hại từ chối giám định thương tật: Nhiều trường hợp người bị hại bị đánh gây chấn thương sọ não hoặc thương tích nặng nhưng vì quan hệ thân tộc, thỏa thuận bồi thường dân sự ngầm hoặc bị đe dọa đã từ chối giám định (như vụ án tại huyện Kiến Xương và huyện Hưng Hà), khiến cơ quan điều tra không đủ căn cứ lượng hóa tỷ lệ tổn thương cơ thể để khởi tố vụ án.
  • Tự ý trưng cầu giám định lại trái quy định: Điển hình tại huyện Vũ Thư, Cơ quan điều tra chỉ căn cứ vào đơn khiếu nại chủ quan của bị hại để trưng cầu giám định lại tại Viện Khoa học hình sự (làm giảm tỷ lệ thương tích từ 35% xuống 19%) mà không yêu cầu Trung tâm pháp y tỉnh Thái Bình giải thích kết luận ban đầu theo khoản 2 Điều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (nay là Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

So với các nghiên cứu tại các tỉnh lân cận thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, thực tiễn tại Thái Bình phản ánh rõ nét tác động của quá trình đô thị hóa nông thôn, nơi các xô xát xuất phát từ việc uống rượu bia, tranh chấp đất đai hoặc va chạm giao thông chiếm trên 70% tổng số vụ cố ý gây thương tích.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

  • Hành động: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các điều từ Điều 134 đến Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015, giải thích rõ các khái niệm mang tính định tính như "hung khí nguy hiểm", "thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người", "có tính chất côn đồ". Bổ sung quy định bắt buộc gửi quyết định dẫn giải người bị hại từ chối giám định (theo Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) cho Viện kiểm sát cùng cấp kiểm sát nhằm tránh lạm quyền.
  • Chỉ số mục tiêu: Xóa bỏ 100% sự mâu thuẫn trong việc áp dụng án lệ và giải thích pháp luật giữa các địa phương; bảo đảm 100% các quyết định cưỡng chế dẫn giải được kiểm sát chặt chẽ.
  • Chủ thể thực hiện: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an.
  • Thời gian triển khai: Giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình trưng cầu giám định thương tật và giám định lại.

  • Hành động: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình cần quán triệt việc áp dụng Điều 206 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chỉ ra quyết định trưng cầu giám định lại khi có sự nghi ngờ có căn cứ hoặc mâu thuẫn giữa các kết luận chuyên môn, bắt buộc phải có văn bản yêu cầu cơ quan giám định ban đầu giải thích trước khi trưng cầu cấp trên.
  • Chỉ số mục tiêu: Triệt tiêu hoàn toàn (0%) các vụ án bị cấp phúc thẩm hủy bản án hoặc trả hồ sơ do vi phạm thủ tục giám định pháp y.
  • Chủ thể thực hiện: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Thái Bình.
  • Thời gian triển khai: Áp dụng thường trực ngay từ năm 2018.

Thứ ba, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.

  • Hành động: Tổ chức định kỳ các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về kỹ năng đánh giá chứng cứ, kỹ thuật phân hóa đồng phạm, và phương pháp xác định cấu thành tội phạm vật chất đối với các tội xâm phạm sức khỏe con người.
  • Chỉ số mục tiêu: 100% cán bộ tiến hành tố tụng được cập nhật kiến thức mới của Bộ luật Hình sự năm 2015; giảm tỷ lệ án phải sửa tội danh tại phiên tòa xuống dưới 1%.
  • Chủ thể thực hiện: Công an tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • Thời gian triển khai: Tổ chức 02 đến 04 khóa tập huấn chuyên đề mỗi năm.

Thứ tư, tăng cường tổng kết thực tiễn xét xử và thiết lập quy chế phối hợp liên ngành.

  • Hành động: Định kỳ hàng quý, liên ngành Công an - Viện kiểm sát - Tòa án tổ chức hội nghị giao ban rút kinh nghiệm đối với các vụ án cố ý gây thương tích phức tạp, các vụ án rút truy tố hoặc đình chỉ do người bị hại rút yêu cầu khởi tố.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ định tội danh chính xác ngay từ giai đoạn khởi tố bị can đạt trên 98,5%.
  • Chủ thể thực hiện: Liên ngành tố tụng hai cấp tỉnh Thái Bình.
  • Thời gian triển khai: Thực hiện định kỳ hàng quý từ năm 2018 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân).

  • Lợi ích: Nắm vững quy trình logic 3 bước định tội danh chuẩn xác, tránh các lỗi suy đoán chủ quan; làm rõ tiêu chí áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng như "hung khí nguy hiểm" hay "tính chất côn đồ".
  • Trường hợp sử dụng: Tra cứu và xử lý các vụ án cố ý gây thương tích có tranh chấp về tỷ lệ thương tật hoặc khi người bị hại từ chối đi giám định pháp y.

Nhóm 2: Luật sư và người bào chữa trong các vụ án hình sự.

  • Lợi ích: Nhận diện nhanh chóng các vi phạm thủ tục tố tụng trong thu thập chứng cứ, quy trình trưng cầu giám định lại thương tật để xây dựng luận cứ bào chữa hiệu quả.
  • Trường hợp sử dụng: Vận dụng làm căn cứ pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo trong các vụ án có dấu hiệu định tội danh vượt quá tính chất hành vi hoặc bị áp dụng sai tình tiết tăng nặng.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học.

  • Lợi ích: Tiếp cận nguồn dữ liệu thực tiễn phong phú, hệ thống số liệu xét xử 5,5 năm tại Thái Bình và các phân tích sâu sắc về 4 yếu tố cấu thành tội phạm.
  • Trường hợp sử dụng: Làm tài liệu tham khảo giảng dạy chuyên đề Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, viết luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp về nhóm tội xâm phạm nhân thân.

Nhóm 4: Các cơ quan nghiên cứu chính sách, lập pháp và cải cách tư pháp.

  • Lợi ích: Thu nhận các đánh giá thực chứng về tác động của các điều luật mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015 từ góc nhìn của một địa phương cụ thể.
  • Trường hợp sử dụng: Xây dựng báo cáo tổng kết thi hành pháp luật, tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nghị quyết hướng dẫn thi hành án hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm tội xâm phạm sức khỏe con người theo Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm những tội danh cụ thể nào? Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 07 tội danh tại Chương XIV, gồm: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135); Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136); Tội gây thương tích khi thi hành công vụ (Điều 137); Tội vô ý gây thương tích (Điều 138); Tội vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (Điều 139); và Tội hành hạ người khác (Điều 140).

Tại sao việc người bị hại từ chối giám định thương tích lại gây khó khăn cho việc định tội danh? Hầu hết các tội xâm phạm sức khỏe có cấu thành tội phạm vật chất, đòi hỏi hậu quả thương tích phải được lượng hóa bằng tỷ lệ phần trăm cụ thể (từ 11% trở lên hoặc dưới 11% kèm điều kiện). Nếu người bị hại từ chối giám định y khoa, cơ quan điều tra không có căn cứ chứng minh thiệt hại thực tế, dẫn đến nguy cơ đình chỉ vụ án hoặc bỏ lọt tội phạm, như các vụ án thực tế tại huyện Kiến Xương và Hưng Hà.

Tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" trong Điều 134 được thực tiễn tỉnh Thái Bình xác định như thế nào? Thực tiễn xét xử tại Thái Bình cho thấy Tòa án áp dụng tình tiết này khi người phạm tội sử dụng các loại dao phay, kiếm, mã tấu, ống tuýp sắt, gậy tre vót nhọn, hoặc ném đá lớn có khả năng sát thương cao. Dù tỷ lệ thương tích chỉ đạt từ 3% đến 4% (dưới 11%), hành vi vẫn bị định tội theo khoản 1 hoặc chuyển khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Khi nào cơ quan tiến hành tố tụng được phép trưng cầu giám định lại tỷ lệ thương tích? Theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc giám định lại chỉ được tiến hành khi có sự nghi ngờ về tính chính xác của kết luận giám định lần đầu hoặc có sự mâu thuẫn giữa các kết luận chuyên môn. Cơ quan tố tụng không được tùy tiện trưng cầu giám định lại chỉ dựa trên đơn yêu cầu chủ quan của đương sự khi chưa yêu cầu tổ chức giám định giải thích rõ kết luận.

Định tội danh chính thức khác với định tội danh không chính thức ở những điểm nào? Định tội danh chính thức do các chủ thể có thẩm quyền nhà nước (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) tiến hành trong vụ án cụ thể, làm phát sinh trực tiếp các quyền và nghĩa vụ tố tụng như khởi tố, truy tố, xét xử. Định tội danh không chính thức do các nhà khoa học, chuyên gia hoặc sinh viên thực hiện trong nghiên cứu học thuật, không có giá trị bắt buộc thi hành pháp lý.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về định tội danh các tội xâm phạm sức khỏe con người, chuẩn hóa quy trình nhận thức logic 3 bước dựa trên 4 yếu tố cấu thành tội phạm.
  • Khảo sát toàn diện 438 vụ án với 785 bị cáo tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình (2012 - tháng 6/2017), chỉ ra tỷ lệ xét xử theo cấu thành cơ bản đạt 54,6% và cấu thành tăng nặng chiếm 45,4%.
  • Nhận diện chính xác các nguyên nhân cốt lõi gây sai sót định tội danh, đặc biệt là tình trạng từ chối giám định thương tích và vi phạm thủ tục trưng cầu giám định lại.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, chuẩn hóa quy trình giám định, nâng cao năng lực cán bộ tố tụng đến tăng cường giao ban liên ngành.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng và tài liệu học thuật có giá trị tham khảo cao cho công tác nghiên cứu, đào tạo luật học và thực tiễn xét xử tại Việt Nam.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan tư pháp cần tiếp tục theo dõi sát sao việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn. Độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ tư pháp quan tâm đến lĩnh vực luật hình sự nên tham khảo toàn văn luận văn để nghiên cứu sâu các án lệ thực tế và phương pháp luận định tội danh chuẩn xác.