CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG 1. Tội phạm mua bán người trên không gian mạng Tội mua bán người là một trong những loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất chung của tội phạm1, được quy định cụ thể trong hai điều, là Điều 150 và Điều 151 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Liên quan đến quy định về tội danh mua bán người thì ngoài việc được quy định trong BLHS 2015 thì tội mua bán người còn được giải thích và quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Nghị quyết Số 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người, Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của BLHS 2015; Nghị định thư: Về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000, có hiệu lực từ ngày 25/12/2003 (gọi tắt là Nghị định thư năm 2000 về chống buôn bán người). Qua việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật có liên quan đến tội mua bán người của Việt Nam và so sánh với Luật quốc tế, có thể thấy rằng, quan niệm về tội mua bán người trong pháp luật Việt Nam đã thừa hưởng sự nghiên cứu về quy phạm pháp luật của Luật quốc tế. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam cần thường xuyên cập nhật và điều chỉnh các quy định pháp luật để đáp ứng với sự thay đổi của thế giới.
Thêm vào đó, việc so sánh quy phạm pháp luật với Luật quốc tế cũng cần phải tiếp cận một cách toàn diện và chính xác để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hơn cho hệ thống pháp luật của đất nước. Các quy định pháp luật liên quan đến tội mua bán người là một vấn đề nhạy cảm và phức tạp, đòi hỏi sự cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm cao từ phía các nhà lập pháp và cơ quan chức năng. Việc tìm hiểu và áp dụng quy phạm pháp luật một cách chính xác và hiệu quả sẽ giúp ngăn chặn và xử lý các trường hợp mua bán người, đồng thời bảo vệ và nâng cao quyền lợi của nạn nhân. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu và các đối tác quốc tế.
Chỉ khi có sự hợp tác này, chúng ta mới có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả và bảo vệ tốt nhất cho các nạn nhân của tội mua bán người. 1 Điều 8, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27/11/2015. Khái quát về Tội phạm mua bán người trên không gian mạng Khái quát về tội phạm mua bán người: Mua bán người có thể hiểu là hành vi chuyển giao, tiếp nhận người hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp để chuyển giao người hoặc tiếp nhận người để nhận hoặc giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác được thực hiện bởi việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc các thủ đoạn khác. Tại Việt Nam, trước năm 2009, phạm vi mua bán người chỉ giới hạn ở phụ nữ và trẻ em qua hai Điều 119 và 120 của BLHS 1999.
Đứng trước thực tiễn về diễn biến tình hình tội phạm có thể tồn tại những hành vi mua bán đối với cả nam giới nhằm những mục đích khác nhau. Hành vi này đã dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm và hiện tượng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trục lợi. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã sửa đổi Điều 119 thành tội mua bán người: “Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.Tại Việt Nam, trước năm 2009, phạm vi mua bán người chỉ giới hạn ở phụ nữ và trẻ em qua hai Điều 119 và 120 của BLHS 1999. Đứng trước thực tiễn về diễn biến tình hình tội phạm có thể tồn tại những hành vi mua bán đối với cả nam giới nhằm những mục đích khác nhau.
Hành vi này đã dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm và hiện tượng lợi dụng kẽ hở cuả pháp luật để trục lợi. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã sửa đổi Điều 119 thành tội mua bán người: “Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Từ năm 2009 đến nay, BLHS vẫn tiếp tục sử dụng tội mua bán người. Việt Nam đã đổi tên tội theo quốc tế từ “tội buôn người” thành “tội mua bán người” để phù hợp với quy định chung của pháp luật đã thực hiện nhiều nỗ lực để chống lại tình trạng buôn bán người trong nước, đặc biệt là trong những năm gần đây.
Việc thay đổi tội danh từ "tội buôn người" thành "tội mua bán người" là một trong những biện pháp được các nhà làm luật của Việt Nam áp dụng để cải thiện tình hình này, nhằm tăng cường sự chú ý và cảnh giác của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này. Thông qua việc nội luật hóa các nội dung pháp luật quốc tế, các nhà làm luật đã dịch thuật bằng ngôn ngữ thuần Việt sao cho phù hợp với thực tiễn pháp luật Việt Nam. Ở đây, từ "buôn bán người" và "mua bán người" có hai ý nghĩa khác nhau. "Buôn bán người" là hành vi mua bán lại người nhiều lần và có tính chất chuyên nghiệp.
Trong khi đó, "mua bán người" chỉ là hành vi mua hoặc bán hoặc cả hai hành vi này một lần hoặc nhiều lần. Do đó, sử dụng từ "buôn bán người" sẽ không thể truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp mua hoặc bán hoặc 7 cả hai hành vi này một lần2. Do đó để đảm bảo tính chính xác và phù hợp với cơ sở pháp lý, BLHS Việt Nam đã sử dụng từ "mua bán người" để miêu tả hành vi mua hoặc bán người một lần hoặc nhiều lần. Nếu chưa phân biệt được hai thuật ngữ "buôn bán người" và "mua bán người", thì ta sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý các hành vi này theo pháp luật.
Vì vậy, cần phải hiểu rõ hơn về sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này để có thể đưa ra các biện pháp phù hợp và hiệu quả để ngăn chặn và ngăn ngừa hành vi mua bán người. BLHS Việt Nam sử dụng từ "mua bán người" là chính xác và phù hợp để có cơ sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự cho hành vi mua hoặc bán hoặc cả hai hành vi này một lần hoặc nhiều lần (buôn bán). Qua đó, trong lĩnh vực pháp luật, việc sử dụng các từ ngữ chính xác và phù hợp là rất quan trọng để tránh sự hiểu nhầm và đảm bảo tính chính xác trong các tài liệu và văn bản pháp lý. Việc thay đổi tội danh từ "tội buôn người" thành "tội mua bán người" là một bước tiến quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và đối xử nhân đạo với những người bị mua bán và phạm nhân.
Tội mua bán người là một tội phạm đáng lên án và đang là mối quan tâm chung của xã hội. Bộ luật hình sự Việt Nam đã phân loại tội mua bán người theo BLHS thành hai tội riêng biệt: tội mua bán người (Điều 150) và tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151) nhằm đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp và trừng phạt tùy theo độ tuổi của nạn nhân. Theo pháp luật, tội mua bán người là hành vi bắt cóc, lừa dối, ép buộc, mua bán, vận chuyển hoặc tiếp tay cho việc mua bán, vận chuyển con người với mục đích bán cho người khác, bán cho nước ngoài hoặc sử dụng cho các mục đích phi nhân đạo khác. Điều này đã đặt nạn nhân vào tình thế bị bó buộc, bị xâm hại tình dục, bị bạo lực và lạm dụng tinh thần, thể chất, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe và tâm lý của nạn nhân.
Khả năng phục hồi về thể chất và tinh thần có thể phụ thuộc vào độ tuổi. Tội mua bán người được phân thành hai loại: “mua bán người” (có tuổi từ 16 tuổi trở lên) và “mua bán người dưới 16 tuổi đã giúp tăng cường thêm hiệu quả về mặt pháp luật. Mặt khác, giúp cho các cơ quan chức năng có thể xử lý và trừng phạt tội phạm một cách chính xác và đúng đắn hơn. Khái quát về không gian mạng: Theo khoản 3 Điều 2 Luật An ninh mạng 2018, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu.
Đây là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội mà không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Do đó, không gian mạng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, ta càng không thể phủ nhận được tầm 2 “Tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo quy định của BLHS tương thích với pháp luật quốc tế” https://tapchitoaan.vn/toi-mua-ban-nguoi-va-toi-mua-ban-tre-em-theo-quy-dinh-cua%C2%A0-blhs-tuong-thich- voi-phap-luat-quoc-te6728.html 8 quan trọng và lợi ích của mạng xã hội đã đem lại. Tuy nhiên, nhìn nhận ở một khía cạnh khác, việc mạng xã hội sản sinh ra nhiều loại tội phạm cũng đang là một vấn đề cần đáng được lên án.
Kể cả loại tội phạm mua bán người, hiện nay chúng cũng đã bắt đầu hoành hành và phát triển nhiều trên không gian mạng xã hội. Khác với mua bán người thông thường thì mua bán người trên không gian mạng nguy hiểm hơn ở chỗ phương thức thực hiện tội phạm. Chúng không bị giới hạn bởi biên giới dẫn đến phạm vi rộng hơn tạo ra sự lỏng lẻo của an ninh mạng. Nhiều tài khoản, thông tin cá nhân khó xác thực, có thể làm giả trên mạng xã hội và dễ dàng xóa dấu vết nên không gian mạng trở thành nơi lý tưởng bổ trợ cho việc thực hiện tội phạm và phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm tinh vi hơn, nguy hiểm hơn.
Cụ thể, tổ chức hoặc cá nhân đã sử dụng mạng Internet như một công cụ để mua bán, trao đổi, vận chuyển hoặc cung cấp người cho những mục đích trái đạo đức như bóc lột tình dục, lao động bất hợp pháp, buôn bán nội tạng hoặc các hành vi phi nhân đạo khác.