Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế mang lại sự cải thiện về đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, song cũng làm nảy sinh nhiều mặt trái về an ninh trật tự, với sự gia tăng và biến động phức tạp của các loại tội phạm. Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội cướp giật tài sản là hành vi xâm phạm quyền sở hữu và trật tự an toàn xã hội, được quy định kế thừa qua các thời kỳ từ Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 đến Điều 171 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại địa bàn tỉnh Hải Dương, giai đoạn 2020 – 2024 ghi nhận tình hình tội cướp giật tài sản diễn biến phức tạp với nhiều vụ việc nghiêm trọng, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội có xu hướng ngày càng manh động, tinh vi, có sự tham gia của đối tượng chưa đủ 18 tuổi. Thủ đoạn phổ biến là lợi dụng các tuyến đường vắng, thời điểm sáng sớm hoặc ban đêm, sử dụng xe máy tiếp cận giật tài sản có giá trị cao, dễ tiêu thụ (như tiền, vàng, túi xách, điện thoại di động) rồi nhanh chóng tẩu thoát, thậm chí dùng hung khí đe dọa. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Đỗ Thanh Tùng thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tội phạm học tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024".

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở các tài liệu, số liệu về tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024, khóa luận phân tích thực trạng và diễn biến của tội cướp giật tài sản.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu thực trạng tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024;
  2. Nghiên cứu diễn biến tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bức tranh tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024 qua nghiên cứu số liệu và các tài liệu để làm sáng tỏ thực trạng và diễn biến của loại tội phạm này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn tỉnh Hải Dương.
    • Thời gian: Giai đoạn 05 năm, từ năm 2020 đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống khái niệm và lý thuyết chuyên ngành tội phạm học về tình hình tội phạm, thực trạng tội phạm (xét về mức độ và tính chất), diễn biến tội phạm, tội phạm rõ, tội phạm ẩn và chỉ số tội phạm (tham chiếu theo Giáo trình Tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội do PGS.TS. Lê Thị Sơn chủ biên, NXB Công an nhân dân, 2022). Khung pháp lý áp dụng là quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phương pháp luận: Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng ngừa tội phạm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận định lượng;
  • Phương pháp tiếp cận tổng thể, tiếp cận bộ phận;
  • Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản;
  • Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu;
  • Phương pháp thống kê mô tả;
  • Phương pháp chứng minh giả thuyết;
  • Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp;
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
  • Phương pháp dự báo;
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (nghiên cứu điển hình).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Hải Dương, số liệu của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024, số liệu thống kê dân số từ Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, thông tin vụ án thực tế từ Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Hải Dương và số liệu đối sánh từ Luận văn thạc sĩ của Đỗ Hoàng Giang (2020).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thực trạng tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024

Chương 1 làm rõ bức tranh thực trạng tội cướp giật tài sản (CGTS) trên địa bàn tỉnh thông qua hai thông số cơ bản: mức độ và tính chất của tội phạm.

1. Thực trạng về mức độ của tội phạm:

  • Tội phạm rõ: Trong 5 năm (2020 – 2024), TAND các cấp tỉnh Hải Dương đã đưa ra xét xử sơ thẩm tổng cộng 58 vụ án với 79 bị cáo phạm tội cướp giật tài sản. Số vụ cao nhất vào năm 2020 (18 vụ, 22 bị cáo), giảm mạnh năm 2021 (5 vụ, 7 bị cáo), tăng trở lại năm 2022 (15 vụ, 22 bị cáo), sau đó giảm dần vào năm 2023 (11 vụ, 13 bị cáo) và năm 2024 (9 vụ, 15 bị cáo).
  • Tương quan với các nhóm tội phạm khác: Tổng số vụ CGTS (58 vụ) chiếm tỷ trọng 3,77% trong tổng số các tội xâm phạm sở hữu (1.537 vụ) và chiếm 0,85% trong tổng số tội phạm nói chung (6.821 vụ) được thụ lý, xét xử trên toàn tỉnh cùng giai đoạn.
Nhóm tội phạm 2020 2021 2022 2023 2024 Tổng cộng
Cướp giật tài sản (vụ) 18 5 15 11 9 58
Tội xâm phạm sở hữu (vụ) 311 354 316 267 289 1.537
Tội phạm nói chung (vụ) 1.243 1.376 1.465 1.485 1.252 6.821
  • Chỉ số tội phạm: Bình quân giai đoạn 2020 – 2024, tỉnh Hải Dương có chỉ số tội phạm là 0,60 vụ/100.000 dân và chỉ số người phạm tội là 0,81 người/100.000 dân. Khi đối sánh với TP. Hà Nội (chỉ số tội phạm 1,55; chỉ số người phạm tội 2,12) và toàn quốc (chỉ số tội phạm 1,73; chỉ số người phạm tội 2,54), tỷ lệ tội phạm cướp giật tài sản tại Hải Dương thấp hơn rõ rệt.
  • Tội phạm ẩn: Nghiên cứu chỉ ra tội phạm ẩn thực tế có tồn tại. Qua rà soát hồ sơ xét xử, có 9 vụ (chiếm 15,5%) đối tượng thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần trước đó nhưng không bị phát hiện, chỉ bị làm rõ khi bị bắt ở vụ việc cuối cùng. Nguyên nhân tồn tại tội phạm ẩn xuất phát từ phía người bị hại: giá trị tài sản bị cướp giật nhỏ, mất niềm tin vào khả năng thu hồi tài sản, sợ mất thời gian, ngại tiếp xúc cơ quan pháp luật hoặc sợ bị trả thù. Khóa luận nêu vụ án điển hình của Lê Văn Đ. (ngày 11/7/2024) thực hiện liên tiếp 2 vụ cướp giật tài sản trong vòng 30 phút tại KCN Phúc Điền và thị trấn Lai Cách (huyện Cẩm Giàng) nhưng ban đầu các nạn nhân không trình báo.

2. Thực trạng về tính chất của tội phạm qua các cơ cấu: Tác giả phân tích tính chất tội phạm qua 14 tiêu thức cơ cấu cụ thể:

Tiêu thức cơ cấu Phân loại chi tiết Số lượng Tỷ lệ (%)
Phân loại tội phạm (n=79 người) Tội phạm nghiêm trọng
Tội phạm rất nghiêm trọng
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
56
21
2
70,8%
26,7%
2,5%
Hình phạt áp dụng (n=79 người) Tù dưới 3 năm
Tù từ 3 đến 7 năm
Tù từ 7 đến 15 năm
Tù từ 15 đến 20 năm
16
52
11
0
20,3%
65,8%
13,9%
0,0%
Hình thức thực hiện (n=58 vụ) Phạm tội riêng lẻ
Đồng phạm
47
11
81,0%
19,0%
Thời gian gây án (n=58 vụ) Từ 08h00 đến 15h59
Từ 00h00 đến 07h59
Từ 16h00 đến 23h59
22
19
17
37,9%
32,8%
29,3%
Phương tiện sử dụng (n=58 vụ) Sử dụng xe máy
Không sử dụng xe máy
51
7
87,9%
12,1%
Loại tài sản chiếm đoạt (n=58 vụ) Tiền, vàng, trang sức
Điện thoại, laptop, đồ điện tử
Các loại tài sản khác
24
23
11
41,4%
39,6%
19,0%
Địa bàn phạm tội (n=58 vụ) TP. Hải Dương
TP. Chí Linh
Huyện Kim Thành
Huyện Gia Lộc
Các huyện khác
17
10
9
6
16
29,3%
17,2%
15,5%
10,3%
27,7%
Giới tính người phạm tội (n=79 người) Nam giới
Nữ giới
63
16
79,7%
20,3%
Độ tuổi người phạm tội (n=79 người) Từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi
Từ đủ 18 đến 30 tuổi
Trên 30 tuổi
22
43
14
27,8%
54,5%
17,7%
Tiền án, tiền sự (n=79 người) Phạm tội lần đầu
Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
70
9
88,6%
11,4%
Trình độ học vấn (n=79 người) Không biết chữ
Tiểu học
Trung học cơ sở (THCS)
Trung học phổ thông (THPT)
Trên THPT
2
13
40
19
5
2,5%
16,5%
50,6%
24,1%
6,3%
Tình trạng việc làm (n=79 người) Không có việc làm
Việc làm không ổn định (tự do)
Việc làm ổn định
Học sinh
27
31
14
7
34,2%
39,2%
17,7%
8,9%
Tình trạng nghiện ma túy (n=79 người) Không nghiện ma túy
Nghiện ma túy
60
19
75,9%
24,1%
Hoàn cảnh gia đình (n=79 người) Hoàn cảnh phức tạp
Bố mẹ ly hôn / Mồ côi cha/mẹ
Gia đình bình thường
35
26
18
44,3%
32,9%
22,8%
Động cơ phạm tội (n=79 người) Muốn có tiền chi tiêu cá nhân
Động cơ khác (trả nợ, cờ bạc, ma túy)
69
10
87,3%
12,7%

Chương 2: Diễn biến tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024

Chương 2 phân tích sự thay đổi về mức độ và tính chất của tội CGTS theo thời gian, lấy năm 2020 làm mốc gốc (tương ứng 100%) để tính tỷ lệ tăng giảm cho các năm tiếp theo.

1. Diễn biến về mức độ:

  • Năm 2020 (Năm gốc): Đạt đỉnh với 18 vụ (100%) và 22 bị cáo (100%).
  • Năm 2021: Giảm mạnh xuống còn 5 vụ (đạt 27,8% so với năm gốc, giảm 72,2%) và 7 bị cáo (đạt 31,8%, giảm 68,2%). Nguyên nhân chủ yếu do việc triển khai nghiêm ngặt các biện pháp giãn cách xã hội phòng chống dịch COVID-19 và lực lượng chức năng tăng cường kiểm soát đường phố.
  • Năm 2022: Tăng vọt lên 15 vụ (đạt 83,3% so với năm gốc, giảm 16,7%) với 22 bị cáo (đạt 100% so với năm gốc). Sự gia tăng này gắn liền với giai đoạn phục hồi sinh hoạt kinh tế - xã hội, nhu cầu đi lại gia tăng.
  • Năm 2023: Giảm còn 11 vụ (đạt 61,1%, giảm 38,9% so với năm gốc) và 13 bị cáo (đạt 59,1%, giảm 40,9%).
  • Năm 2024: Số vụ tiếp tục giảm xuống 9 vụ (đạt 50,0%, giảm 50% so với năm gốc), tuy nhiên số bị cáo tăng lên 15 người (đạt 68,2%, giảm 31,8% so với năm gốc). Hiện tượng số vụ giảm nhưng số bị cáo tăng phản ánh sự gia tăng của các vụ việc có tính chất đồng phạm hoặc hoạt động theo nhóm.
Năm Số vụ CGTS Tỷ lệ so với 2020 Số bị cáo CGTS Tỷ lệ so với 2020
2020 18 100,0% 22 100,0%
2021 5 27,8% (giảm 72,2%) 7 31,8% (giảm 68,2%)
2022 15 83,3% (giảm 16,7%) 22 100,0% (không đổi)
2023 11 61,1% (giảm 38,9%) 13 59,1% (giảm 40,9%)
2024 9 50,0% (giảm 50,0%) 15 68,2% (giảm 31,8%)

2. Diễn biến trong tương quan với tội xâm phạm sở hữu và tội phạm nói chung: So sánh xu hướng vận động cho thấy sự khác biệt rõ nét: trong khi tội CGTS có xu hướng giảm tổng thể sau năm 2022, thì nhóm tội xâm phạm sở hữu và tội phạm nói chung lại có xu hướng gia tăng liên tục từ năm 2020 đến 2023 trước khi giảm vào năm 2024.

  • Tội xâm phạm sở hữu: Năm 2020 (311 vụ), năm 2021 tăng lên 354 vụ (+13,8%), năm 2022 là 316 vụ (+1,6%), năm 2023 giảm còn 267 vụ (-14,1%) và năm 2024 là 289 vụ (-7,1%). Về số người phạm tội sở hữu: 2020 (494 người), 2021 (547 người, +10,7%), 2022 (519 người, +5,6%), 2023 (439 người, -11,1%), 2024 (473 người, -4,2%).
  • Tội phạm nói chung: Năm 2020 có 1.243 vụ (2.463 người), năm 2021 tăng lên 1.376 vụ (+10,6%, 2.522 người), năm 2022 đạt 1.465 vụ (+17,9%, 2.736 người), năm 2023 lập đỉnh với 1.485 vụ (+19,5%, 3.024 người), năm 2024 giảm về 1.252 vụ (+0,7%, 2.487 người).

Sự biến động trái chiều này gợi mở hiện tượng tội phạm chiếm đoạt tài sản có sự chuyển dịch phương thức hoạt động sang các hình thức phi truyền thống, ít công khai hơn như tội phạm công nghệ cao, lừa đảo qua mạng hoặc trộm cắp có tổ chức.

3. Diễn biến về tính chất qua chế tài hình sự áp dụng: Khóa luận thống kê sự thay đổi mức hình phạt tù có thời hạn được áp dụng qua các năm:

Năm Dưới 3 năm tù Từ 3 đến 7 năm tù Từ 7 đến 15 năm tù
2020 4 bị cáo (100%) 16 bị cáo (100%) 2 bị cáo (100%)
2021 2 bị cáo (50,0%) 5 bị cáo (31,3%) 0 bị cáo (0,0%)
2022 5 bị cáo (125,0%) 14 bị cáo (87,5%) 3 bị cáo (150,0%)
2023 2 bị cáo (50,0%) 10 bị cáo (62,5%) 1 bị cáo (50,0%)
2024 3 bị cáo (75,0%) 7 bị cáo (43,8%) 5 bị cáo (250,0%)

Năm 2024 ghi nhận số lượng bị cáo bị tuyên phạt từ 7 đến 15 năm tù đạt mức cao nhất (5 bị cáo, tương đương 250% so với năm 2020), phản ánh mức độ nghiêm trọng gia tăng trong các vụ án phạm tội có tổ chức hoặc gây hậu quả lớn ở giai đoạn cuối kỳ nghiên cứu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Phác họa toàn diện thực trạng tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024 với 58 vụ án và 79 bị cáo qua 14 chỉ số cơ cấu chi tiết.
  • Xác định chỉ số tội phạm cướp giật tài sản của tỉnh Hải Dương đạt mức 0,60 vụ/100.000 dân và chỉ số người phạm tội đạt 0,81 người/100.000 dân, thấp hơn mức bình quân của TP. Hà Nội và toàn quốc.
  • Xác định các đặc trưng tội phạm học chủ yếu của tội CGTS tại Hải Dương: phần lớn là tội phạm nghiêm trọng (70,8%), hình phạt áp dụng chủ yếu từ 3 đến 7 năm tù (65,8%), gây án riêng lẻ (81,0%), dùng xe máy làm phương tiện (87,9%), tập trung vào tài sản là tiền/vàng (41,4%) và đồ điện tử (39,6%).
  • Nhận diện chân dung người phạm tội: đa số là nam giới (79,7%), độ tuổi trẻ từ 18 đến 30 tuổi (54,5%), phạm tội lần đầu (88,6%), học vấn thấp ở bậc THCS (50,6%), không có việc làm hoặc việc làm không ổn định (73,4%), hoàn cảnh gia đình phức tạp (44,3%) và động cơ chủ yếu là kiếm tiền chi tiêu cá nhân (87,3%).
  • Phân tích sự vận động của tội phạm qua 5 năm, chỉ ra sự suy giảm số vụ sau năm 2022 nhưng cảnh báo xu hướng gia tăng số bị cáo trong một vụ án (năm 2024 có 9 vụ nhưng 15 bị cáo) và sự chuyển dịch phương thức sang các loại tội phạm phi truyền thống.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Kết hợp đồng bộ biện pháp trấn áp của cơ quan tiến hành tố tụng với các giải pháp phòng ngừa xã hội;
  • Nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản và cảnh giác của người dân khi tham gia giao thông hoặc di chuyển tại các khu vực vắng vẻ;
  • Tăng cường công tác quản lý xã hội, quản lý cư trú, hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên;
  • Chú trọng vai trò giáo dục của gia đình, đặc biệt là các gia đình có hoàn cảnh phức tạp, ly hôn;
  • Khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tố giác tội phạm nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ tội phạm ẩn;
  • Đổi mới phương thức tuần tra, kiểm soát giao thông và nâng cao năng lực điều tra, ứng dụng công nghệ để kịp thời truy vết tội phạm.

Đóng góp của khóa luận: Khóa luận là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên tại Trường Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về thực trạng và diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong mốc thời gian 2020 – 2024, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác nghiên cứu tội phạm học và hoạt động tư pháp hình sự tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn dữ liệu sơ cấp của khóa luận chủ yếu phản ánh "tội phạm rõ" thông qua các bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh Hải Dương. Việc khảo sát "tội phạm ẩn" mới chỉ dừng lại ở mức độ ước lượng tương đối dựa trên một số vụ án điển hình và thông tin phản ánh từ cán bộ điều tra/báo chí do tính chất phức tạp của việc thu thập số liệu chưa khai báo. Khóa luận chưa đi sâu phân tích toàn diện các nguyên nhân - điều kiện xã hội và giải pháp phòng ngừa thành các chương độc lập do giới hạn trong kết cấu 2 chương tập trung vào thực trạng và diễn biến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sâu về nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản tại các địa bàn giáp ranh hoặc khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương; triển khai điều tra xã hội học trên diện rộng đối với nạn nhân để đo lường chính xác hơn về tỷ lệ tội phạm ẩn; xây dựng mô hình dự báo tội phạm và hoàn thiện hệ thống giải pháp phòng ngừa chuyên biệt cho giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật học và Tội phạm học: Tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng, cách thức xử lý số liệu thống kê xét xử hình sự, quy trình phân tích 14 cơ cấu tội phạm học và kỹ thuật tính toán chỉ số tội phạm trên 100.000 dân.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, VKSND, TAND) tỉnh Hải Dương: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về địa bàn trọng điểm (TP. Hải Dương chiếm 29,3%, TP. Chí Linh chiếm 17,2%), khung giờ gây án phổ biến (08h00 – 15h59 chiếm 37,9%) và đặc điểm nhân thân để tối ưu hóa công tác bố trí lực lượng tuần tra, đấu tranh phòng chống tội phạm.
  • Người nghiên cứu các đề tài tương tự: Tham khảo hệ thống tài liệu tổng quan và phương pháp đối sánh dữ liệu tội phạm địa phương với cấp thành phố trực thuộc trung ương và toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng số vụ án và số lượng bị cáo phạm tội cướp giật tài sản bị xét xử tại Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024 là bao nhiêu? Trong giai đoạn 2020 – 2024, TAND các cấp trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã đưa ra xét xử sơ thẩm tổng cộng 58 vụ án với 79 bị cáo phạm tội cướp giật tài sản.

2. Chỉ số tội phạm cướp giật tài sản của tỉnh Hải Dương so với TP. Hà Nội và toàn quốc như thế nào? Bình quân giai đoạn 2020 – 2024, chỉ số tội phạm của Hải Dương là 0,60 vụ/100.000 dân và chỉ số người phạm tội là 0,81 người/100.000 dân. Mức này thấp hơn đáng kể so với TP. Hà Nội (1,55 vụ và 2,12 người) và bình quân toàn quốc (1,73 vụ và 2,54 người).

3. Người phạm tội cướp giật tài sản tại Hải Dương có những đặc điểm nhân thân nổi bật nào? Theo số liệu 79 bị cáo: 79,7% là nam giới; 54,5% ở độ tuổi từ đủ 18 đến 30 tuổi; 88,6% phạm tội lần đầu; 50,6% có trình độ học vấn THCS; 73,4% không có việc làm hoặc việc làm không ổn định; 44,3% xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh phức tạp và 87,3% thực hiện hành vi nhằm mục đích kiếm tiền chi tiêu cá nhân.

4. Tội phạm ẩn của tội cướp giật tài sản được ghi nhận qua dữ liệu nào trong khóa luận? Tác giả ghi nhận có 9 vụ án (chiếm 15,5% tổng số vụ) mà người phạm tội đã thực hiện nhiều vụ cướp giật trước đó nhưng không bị phát hiện, chỉ được làm rõ khi bị bắt giữ ở hành vi cuối cùng. Điển hình là vụ án ngày 11/7/2024 của Lê Văn Đ. gây ra 2 vụ cướp giật trong 30 phút tại huyện Cẩm Giàng nhưng nạn nhân ban đầu không tố giác.

5. Sự khác biệt giữa diễn biến tội cướp giật tài sản và tội xâm phạm sở hữu nói chung tại Hải Dương là gì? Tội cướp giật tài sản có xu hướng giảm tổng thể sau năm 2022 (từ 18 vụ năm 2020 giảm còn 9 vụ năm 2024). Ngược lại, tội xâm phạm sở hữu nói chung gia tăng trong các năm 2021 – 2022 (từ 311 vụ năm 2020 lên 354 vụ năm 2021 và 316 vụ năm 2022) và duy trì ở mức cao, phản ánh sự chuyển dịch sang các hình thức chiếm đoạt tài sản phi bạo lực, tinh vi hơn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thanh Tùng đã hoàn thành việc nghiên cứu thực trạng và diễn biến của tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2020 – 2024 dựa trên nguồn dữ liệu xét xử sơ thẩm thực tế. Bằng các phương pháp định lượng và thống kê mô tả, công trình đã làm rõ 14 tiêu thức cơ cấu về tính chất tội phạm cũng như xu hướng vận động qua 5 năm của loại tội phạm này trong mối tương quan với tình hình tội phạm chung. Đây là tài liệu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn, hỗ trợ thiết thực cho hoạt động nghiên cứu tội phạm học và công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.