Chương 1: Tội cướp tài sản theo BLHS năm 1999 và tình hình tội cướp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh. Chương 2: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm cướp tài sản. 6 CHƢƠNG I TỘI CƢỚP TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ TÌNH HÌNH TỘI CƢỚP TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tội cƣớp tài sản theo Bộ Luật hình sự năm 1999. Khái niệm về tội cướp tài sản theo Bộ luật hình sự năm 1999.
Theo ngôn ngữ tiếng Việt, “cướp” là lấy của người khác bằng vũ lực (nói về của cải hoặc nói chung là cái quý giá 1. Cướp là một thuật ngữ được sử dụng từ rất lâu đời, trong sinh hoạt người ta thường sử dụng từ cướp dùng để chỉ cho việc lấy của người khác bằng vũ lực như là cướp công, kẻ cướp; Cướp là tranh lấy một cách trắng trợn, dựa vào một thế hơn nào đó như cướp đường, cướp lời; Cướp là tác động tai hại làm cho người ta bỗng nhiên mất đi cái rất quý giá như cướp hết mùa màng, cướp đi sinh mạng. Trong luật hình sự thuật ngữ “cướp tài sản” dùng để chỉ một tội phạm được thực hiện bằng hành vi chiếm đoạt tài sản với những thủ đoạn nguy hiểm khiến người bị tấn công tê liệt ý chí, không chống cự được Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời đã nhận thức rõ về tính nguy hiểm của tội phạm này nên để đấu tranh phòng ngừa nó, tại điều thứ 5 Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1946 của Chính phủ có ghi nhận như sau: “Lệnh giới nghiêm chỉ có mục đích bảo vệ trật tự ngoài đường để những sự phạm pháp như trộm cướp khỏi xảy ra. Quyền công dân luôn được hoàn toàn tôn trọng”.
Trong quá trình đấu tranh, phòng ngừa tội cướp tài sản việc hướng dẫn áp dụng hình phạt nghiêm khắc và thống nhất trên toàn quốc để trừng trị và răn đe giáo dục là rất cần thiết nên ngày 19 tháng 01 năm 1955, Chính phủ ta đã ra Thông tư số 442/TTg về việc trừng trị một số tội phạm, trong đó có quy định: “Cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực có dùng vũ khí để dọa nạt thì phạt tù từ 3 đến 10 năm. Cướp của mà có giết người có thể phạt đến tử hình.” 1 Từ điển tiếng Việt thông dụng – Viện ngôn ngữ học, NXB TP.HCM, năm 2002, tr211 7 Kế thừa và phát triển Luật Hình sự của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở nước ta và có dự kiến tình hình diễn biến của tội phạm, năm 1985 Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên. Bộ luật này có hai điều luật quy định về tội cướp tài sản là Điều 129 quy định về “Tội cướp tài sản XHCN” và Điều 151 quy định về “Tội cướp tài sản công dân” đều có nội dung tương đồng, chỉ khác nhau về khách thể và đối tượng tác động của tội phạm. Trên tinh thần bảo hộ bình đẳng về pháp lý đối với các hình thức sở hữu, BLHS năm 1999 không phân biệt hai tội cướp tài sản như BLHS năm 1985 mà chỉ quy định tội phạm này tại một điều luật duy nhất là Điều 133 “Tội cướp tài sản”.
Trong suốt thời gian dài, các nhà lập pháp tại Việt Nam giữ nguyên quan niệm về tội cướp tài sản. Tội cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội cướp tài sản là tội có tính chất, mức độ nguy hiểm rất nghiêm trọng. Bởi vì đặc trưng của tội này là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn hết sức nguy hiểm - dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.
Hành vi này đã đưa người quản lý tài sản vào tình trạng nguy hiểm rất cao. Nó có thể xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm ngay đến tính mạng, sức khỏe của người quản lý tài sản. Đi cùng với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đó là những thiệt hại về tài sản và những tác động tâm lý trong quần chúng nhân dân làm cho người dân lo sợ hạn chế các họat động sản xuất kinh doanh. Tính chất nguy hiểm của tội cướp tài sản rất nghiêm trọng đã được Nhà nước đánh giá thể hiện thông qua những quy định của Bộ luật hình sự về chế tài áp dụng đối với tội phạm này.
Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” trong Bộ luật hình sự năm 1999 có 13 điều, trong đó chỉ có 02 điều luật quy định hình phạt tử hình là “Tội cướp tài sản” và “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thế nhưng, trong cấu thành cơ bản ở khoản 1 của “Tội lừa đảo chiếm 8 đoạt tài sản” khung hình phạt cũng chỉ có từ phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trong khi đó, cấu thành cơ bản ở khoản 1 của “Tội cướp tài sản”, khung hình phạt là phạt tù từ ba năm đến mười năm, thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Điều đó có nghĩa là có thể áp dụng hình phạt không tước tự do - cải tạo không giam giữ đối với tội lừa đảo thì đối với tội cướp tài sản chỉ có thể áp dụng hình phạt tước tự do - tù có thời hạn và tù chung thân, hình phạt tử hình, không áp dụng hình phạt không tước tự do đối với tội phạm này.
Ngay cả việc so sánh khung hình phạt của tội cướp tài sản với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người tại chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999 cũng cho thấy mức độ nguy hiểm của tội cướp tài sản. Trong chương XII này có 30 điều luật nhưng chỉ có 3 điều luật có khung tử hình đó là điều 93 tội giết người, điều 111 tội hiếp dâm và điều 112 tội hiếp dâm trẻ em. Tóm lại, tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội cướp tài sản là tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm rất cao.
Vì vậy những hoạt động đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả đối với tội phạm này là rất cần thiết trong mọi giai đoạn. Những dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản. Cũng như các tội phạm khác, các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản được thể hiện trong bốn yếu tố của tội phạm: khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể. Khách thể của tội cướp tài sản: Khoa học luật hình sự đã chỉ ra: “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” 2.
Vì vậy để tìm hiểu về khách thể của tội cướp tài sản, chúng ta cần xác định quan hệ xã hội bị xâm hại cũng như đối tượng tác động để xâm hại đến các quan hệ đó. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Tập 1, NXB CAND, tr78 9 Về quan hệ xã hội bị xâm hại trong tội cướp tài sản: Tội cướp tài sản xâm hại vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đó là quan hệ sở hữu. Đồng thời tội phạm này cũng xâm hại đến quan hệ nhân thân. Hai quan hệ xã hội này đều có tầm quan trọng đặc biệt của xã hội, chính vì vậy mà cướp tài sản là loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội.
Tội cướp tài sản xâm hại quan hệ nhân thân trước và xâm hại quan hệ về tài sản sau. Xâm hại vào quan hệ nhân thân để tạo điều kiện xâm hại vào quan hệ tài sản. Nếu không xâm hại vào quan hệ nhân thân thì người phạm tội không thể xâm hại vào quan hệ tài sản. Mặc dù mục đích của tội phạm là hướng đến việc chiếm đoạt tài sản.
Chính đặc trưng này cho phép ta phân biệt tội cướp tài sản với tội phạm khác. Nếu tội phạm chỉ nhằm xâm hại đến quan hệ nhân thân mà không nhằm xâm hại quan hệ tài sản thì không phải là tội cướp tài sản hoặc tội phạm xâm hại vào quan hệ tài sản mà trước đó không xâm hại quan hệ nhân thân thân thì cũng không phải là tội cướp tài sản. Về đối tượng tác động của tội cướp tài sản: “Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ”3. Dựa trên cơ sở này và quy định của Bộ luật hình sự 1999 về tội cướp tài sản chúng ta có thể xác định được đối tượng tác động trong tội này chính là tài sản và con người.
Tội cướp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản nên tài sản bị chiếm đoạt trong tội phạm này là tài sản đang thuộc sự quản lý của một chủ thể. Mặt khách quan của tội cướp tài sản: “Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Tập 1, NXB CAND, tr 86 10 quan”4. Vì vậy, mặt khách quan của tội cướp tài sản cũng chính là mặt bên ngoài của tội phạm này. Nó cũng bao gồm các biểu hiện của tội phạm cướp tài sản diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
Tội cướp tài sản có cấu thành hình thức. Bởi vì “cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội”5.