Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám định pháp y trong điều tra vụ án hình sự" được thực hiện bởi sinh viên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (Khoa Tội phạm học và Điều tra tội phạm), dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Đức Hạnh, hoàn thành ngày 25 tháng 8 năm 2022.

Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ các dấu mốc lập pháp quan trọng của Việt Nam:

  • Luật Giám định tư pháp năm 2012 (gồm 46 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2018) đã tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho hoạt động giám định tư pháp nói chung và giám định pháp y nói riêng.
  • Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã dành riêng Chương XV (gồm 10 điều, từ Điều 205 đến Điều 214) quy định về trình tự, thủ tục trưng cầu, yêu cầu và thực hiện giám định.

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là nhóm tội danh xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, kết luận giám định pháp y là một trong những nguồn chứng cứ khoa học phục vụ các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn gặp nhiều vướng mắc: quy định pháp luật còn một số điểm chưa rõ ràng, nhận thức áp dụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất, chế độ đãi ngộ đối với giám định viên pháp y còn hạn hẹp, công tác quản lý hồ sơ, tài liệu giám định còn bộc lộ sơ hở. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nhằm làm rõ cơ sở lý luận, rà soát hệ thống quy định và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như cách thức thực hiện giám định pháp y trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về giám định pháp y trong điều tra vụ án hình sự: khái niệm, đặc điểm, đối tượng, ý nghĩa, lược sử hình thành và phát triển tại Việt Nam; tìm hiểu chế định giám định pháp y ở một số quốc gia.
  2. Phân tích các quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), BLTTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan về thẩm quyền, điều kiện, phạm vi và trình tự thủ tục giám định pháp y.
  3. Đánh giá thực tiễn thi hành, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện hoạt động giám định pháp y trong điều tra hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện các hoạt động giám định pháp y trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự.
  • Phạm vi về pháp luật: Tập trung vào BLTTHS năm 2015, Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phạm vi về chuyên ngành: Nghiên cứu 4 lĩnh vực giám định pháp y cơ bản gồm: pháp y tử thi, pháp y thương tích, pháp y dấu vết sinh vật (máu, tinh dịch, lông, tóc) và pháp y cốt học.
  • Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tiến trình phát triển pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến thời điểm năm 2022; phần số liệu thực tiễn khảo sát qua một số báo cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng trong năm 2018.
  • Phạm vi về không gian: Khảo sát hoạt động giám định pháp y trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp phân tích quy phạm và tổng kết thực tiễn tố tụng.

Khung lý thuyết và khái niệm:

  • Thuật ngữ "giám định" có gốc từ tiếng La-tinh (expertis), chỉ việc xem xét, kiểm tra, nghiên cứu và kết luận dựa trên kiến thức chuyên môn khoa học, kỹ thuật.
  • Khái niệm pháp lý nền tảng căn cứ theo khoản 2 Điều 1 Luật Giám định tư pháp: Giám định tư pháp là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để đưa ra kết luận chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc yêu cầu của người tham gia tố tụng.
  • Định nghĩa do tác giả xây dựng: Giám định pháp y trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động tư pháp bổ trợ phục vụ quá trình điều tra vụ án hình sự, được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định. Kết luận giám định pháp y hình sự là chứng cứ khoa học y học được hình thành thông qua việc vận dụng các tri thức, phương tiện y học để kiểm tra và đưa ra kết luận khoa học về tính mạng, sức khỏe con người có liên quan đến vụ án.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm căn cứ phân tích:

  • Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 và Sắc lệnh số 162 ngày 25/6/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức và hoạt động của ngành Pháp y;
  • Thông tư số 2795 ngày 12/12/1956 của liên Bộ Y tế – Bộ Tư pháp;
  • Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giám định tư pháp; Thông tư số 78/TT-QĐ ngày 26/1/1989 của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 166/TTLT năm 1988 của Bộ Y tế – Bộ Tư pháp;
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988; BLTTHS năm 2015 (các điều: 4, 34, 35, 39, 85, 87, 202, 205, 206, 208, 209, 210, 212, 213);
  • Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 (Nghị quyết số 24/2004/PL-UBTVQH11) và Nghị định số 67/2005/NĐ-CP;
  • Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018);
  • Nghị định số 85/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp;
  • Thông tư số 42/2015/TT-BYT của Bộ Y tế về cơ cấu tổ chức Trung tâm pháp y cấp tỉnh;
  • Thông tư số 49/2017/TT-BCA của Bộ Công an về chế độ bồi dưỡng giám định kỹ thuật hình sự;
  • Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp (như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2003 của Bộ Chính trị).
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu lưu trữ và phân tích tổng kết kinh nghiệm thực tiễn điều tra.

Nguồn dữ liệu:

  • Các giáo trình và sách chuyên khảo trong nước: Khoa học hình sự Việt Nam (Tập 2) do Nguyễn Xuân Yêm chủ biên (2012); Giáo trình khoa học điều tra hình sự của Lê Minh Hùng (2011); Tập bài giảng giám định pháp y của Nguyễn Đăng Chiêu (2016);
  • Báo cáo tổng thuật về giám định tư pháp tại Đức, Pháp, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc của Bộ Tư pháp (2011);
  • Các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng kết thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của khóa luận gồm phần Mở đầu, 2 chương nội dung, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giám định pháp y trong điều tra vụ án hình sự

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử phát triển, các phương pháp kỹ thuật pháp y chuyên sâu và quy định pháp luật hiện hành.

1. Khái niệm, đặc điểm, đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa:

  • 4 đặc điểm cơ bản: (1) Được thực hiện chặt chẽ theo trình tự, thủ tục của BLTTHS khi có trưng cầu của người có thẩm quyền; (2) Có tính độc lập và chủ động chuyên môn cao của giám định viên trong việc lựa chọn phương pháp; (3) Gắn liền với việc vận dụng kiến thức y khoa chuyên sâu; (4) Kết luận giám định có thể bị bổ sung hoặc thay thế thông qua giám định lại.
  • 3 nhóm đối tượng giám định: Người sống (xác định thương tật, tỷ lệ tổn hại sức khỏe); người chết không tự nhiên (xác định nguyên nhân, thời gian tử vong); các sản phẩm có nguồn gốc từ cơ thể người (máu, lông, tóc, tinh dịch, mẫu mô, xương cốt).
  • 3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Khám nghiệm tử thi; khám và giám định thương tích, thể trạng trên người sống; nhận dạng tử thi hoặc các phần thi thể còn sót lại.
  • 5 ý nghĩa đối với điều tra hình sự: Cung cấp căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án; cung cấp nguồn chứng cứ vật chất có độ tin cậy khoa học cao; định hướng và loại trừ các giả thuyết điều tra ban đầu; hỗ trợ phát hiện các phương thức, công cụ mới nhằm phục vụ phòng ngừa tội phạm; nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch của hệ thống tư pháp.

2. Lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức giám định pháp y Việt Nam:

  • Giai đoạn phong kiến đến trước năm 2013: Thời phong kiến, việc khám nghiệm do quan lại địa phương (tri phủ, tri huyện) kiêm nhiệm. Sau năm 1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh 68 và Sắc lệnh 162. Thông tư 2795/1956 đặt nền móng thành lập Hội đồng giám định Pháp y trung ương (Bộ Y tế) và Hội đồng cấp tỉnh. Nghị định 117/HĐBT (1988) phân định 3 lực lượng: pháp y công an, pháp y quân đội (làm chuyên trách) và pháp y ngành y tế (làm kiêm nhiệm). Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 đã chuyển đổi hoàn toàn mô hình giám định pháp y sang hướng chuyên nghiệp hóa; tiếp đó Viện Pháp y quốc gia được thành lập vào ngày 02/11/2006.
  • Giai đoạn từ năm 2013 đến nay: Luật Giám định tư pháp năm 2012 xác lập hệ thống 4 tổ chức giám định pháp y công lập:
    • Viện Pháp y quốc gia (Bộ Y tế): Cơ quan đầu ngành, có Hội đồng Khoa học Công nghệ và Hội đồng Đạo đức nghiên cứu Y - Sinh; năm 2016 được ghi vốn 30 tỷ đồng đầu tư cơ sở vật chất, phòng xét nghiệm ADN và trang thiết bị Khoa Hóa pháp.
    • Trung tâm pháp y cấp tỉnh (Sở Y tế): Thành lập theo Thông tư 42/2015/TT-BYT, gồm tối đa 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc, cơ cấu 2 phòng chức năng và 3 khoa chuyên môn.
    • Viện Pháp y Quân đội (Bộ Quốc phòng): Được đầu tư dự án nâng cấp trung tâm giám định gen trị giá 47 tỷ đồng với 6 cụm và 53 danh mục thiết bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng năng lực xét nghiệm khoảng 4.000 mẫu hài cốt liệt sĩ/năm.
    • Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an): Thực hiện chức năng giám định phục vụ trực tiếp cho hoạt động điều tra tố tụng trong lực lượng công an.

3. Các loại giám định pháp y phổ biến và kỹ thuật chuyên môn:

Loại giám định Mục đích chính Dấu hiệu / Phương pháp kỹ thuật áp dụng
Pháp y tử thi (Điều 202 BLTTHS) Ước tính thời gian chết; xác định nguyên nhân tử vong và đặc điểm nhân thân. - Nhiệt độ: Bụng còn ấm, chưa cứng: chết khoảng 2-4 giờ; tử thi lạnh, cứng, hoen mảnh tím: chết khoảng 24-36 giờ.
- Độ cứng cơ: Dưới 1 giờ: chưa cứng; 1-2 giờ: cứng đầu và chi trên; 12-24 giờ: cứng hoàn toàn; 36-48 giờ: mất cứng do phân hủy.
- Nhân thân: Căn cứ vào hồ sơ răng, sẹo, nốt ruồi, trang phục và chu kỳ phát triển của ấu trùng ruồi/nhặng.
Pháp y thương tích Xác định công cụ, cơ chế tác động và phân biệt vết thương trước/sau chết. - Thời điểm thương tổn: Rửa vết thương không sạch do máu ngấm vào mô dưới da, bờ vết thương há rộng (do co cơ) là tổn thương khi còn sống; rửa trôi sạch ngay, bờ mép vết thương khép kín là vết thương xuất hiện sau khi chết.
- Cơ chế chấn thương: Vết cắt/chém do vật sắc nhọn; thương tích tai nạn giao thông (vỡ xương bánh chè, dập gan/phổi, vỡ sọ trán-đỉnh).
Pháp y dấu vết sinh vật Phân biệt người/động vật; xác định nhóm máu, thời gian dấu vết và phả hệ. - Vết máu: Dùng phản ứng Benzidine, Teichman, Hemochromogen, quang phổ dải Hb. Phân biệt người - động vật bằng thử nghiệm hồng cầu O hoặc phản ứng hãm Antiglobulin. Xác định thời gian tồn tại bằng phương pháp khuếch tán ion chlor (không còn riềm chloride là vết máu dưới 7 ngày). Xác định nhóm máu qua phương pháp Scrff & Holzer hoặc nghiệm pháp Lattes.
- Lông, tóc: Tế bào cuticula người nằm ngang, hốc tủy chiếm 1/5 - 1/4 đường kính sợi (ở động vật cuticula nằm dọc, hốc tủy rộng 1/2 - 2/3). Tiết diện tóc người tròn, râu bầu dục, lông động vật hình tam giác. Định nhóm máu qua phương pháp Yada.
- Tinh dịch: Định tính enzyme acid phosphatase phản ứng tạo hợp chất Azo màu đỏ tím.
Pháp y cốt học Xác định độ tuổi, giới tính, chủng tộc, phục dựng nhân dạng từ hài cốt. Áp dụng 3 phương pháp: (1) Giám định hình thái xương (hộp sọ nguyên vẹn); (2) Giám định qua di vật kèm theo; (3) Phân tích hệ gen ty thể (ADN ty thể mạch vòng bền vững hơn hệ gen nhân mạch thẳng, lưu giữ tốt trong điều kiện xương tiêu hủy lâu năm, di truyền theo dòng mẹ).

4. Quy định của pháp luật hiện hành đối với hoạt động giám định pháp y:

  • Thẩm quyền trưng cầu: Thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Khi xử lý vụ việc phạm pháp quả tang, chứng cứ rõ ràng, cấp trưởng/phó các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư) cũng có quyền ban hành quyết định trưng cầu.
  • Địa điểm và thành phần: Thực hiện tại trụ sở tổ chức giám định hoặc trực tiếp tại hiện trường (Điều 209 BLTTHS). Thành phần tham gia khám nghiệm, mổ hoặc khai quật 01 tử thi gồm không quá 03 cán bộ kỹ thuật hình sự (theo Điều 6 Thông tư 49/2017/TT-BCA).
  • Hình thức giám định:
    • Bắt buộc (Điều 206 BLTTHS): Giám định tuổi của bị can, bị hại qua xương và răng (áp dụng trong các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi theo Điều 141, 142, 144, 145 và các tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 52 BLHS); xác định nguyên nhân chết người; xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, mức độ tổn hại sức khỏe; xác định nồng độ, thành phần độc chất.
    • Theo yêu cầu (Khoản 1 Điều 205 BLTTHS): Cơ quan điều tra xét thấy cần thiết đối với dấu vết lông, tóc, máu để phục vụ mở rộng vụ án.
  • Thời hạn luật định (Điều 208 BLTTHS): Thời hạn giám định nguyên nhân chết không quá 01 tháng; giám định tuổi không quá 09 ngày; các trường hợp khác theo quyết định trưng cầu. Trong vòng 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu hoặc nhận được kết luận giám định, cơ quan điều tra phải chuyển văn bản cho Viện kiểm sát. Trong thời hạn 07 ngày, kết luận giám định phải được thông báo bằng văn bản đến bị can, bị cáo, bị hại và các đương sự liên quan.
  • Giám định bổ sung và giám định lại (Điều 210, 212 BLTTHS): Thực hiện khi kết luận chưa rõ, phát sinh tình tiết mới hoặc có nghi ngờ tính chuẩn xác của kết luận ban đầu. Trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền quyết định việc giám định lại do một Hội đồng giám định mới tiến hành.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện hoạt động giám định pháp y trong điều tra vụ án hình sự và những kiến giải hoàn thiện

Căn cứ vào kết cấu mục lục của khóa luận, nội dung Chương 2 tập trung phân tích 5 nội dung chính:

  1. Thực tiễn thực hiện các hoạt động giám định pháp y trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
  2. Những kết quả đạt được trong việc thu thập chứng cứ, định tội danh và hỗ trợ công tác khởi tố, điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng.
  3. Những khó khăn vướng mắc phát sinh trong từng hoạt động giám định pháp y cụ thể (khám nghiệm tử thi, giám định thương tích, giám định gen, dấu vết sinh học) và phân tích nguyên nhân thực tiễn.
  4. Những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật tố tụng hình sự và Luật Giám định tư pháp (về thời hạn giám định, phân cấp thẩm quyền, cơ chế phối hợp liên ngành) cùng nguyên nhân lập pháp.
  5. Hệ thống các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng hoạt động giám định pháp y trong điều tra hình sự tại Việt Nam.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu của tác giả thể hiện qua các luận điểm và dữ liệu cụ thể:

  • Làm rõ cơ sở lý luận và quá trình phát triển của hệ thống thể chế pháp y tại Việt Nam từ Sắc lệnh 68 (năm 1945), qua các văn bản thời kỳ đổi mới (Nghị định 117/HĐBT năm 1988, Pháp lệnh năm 2004) đến Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi năm 2018).
  • Ghi nhận các số liệu thực tế về nguồn lực đầu tư cho hệ thống giám định công lập: Dự án xây dựng Viện Pháp y quốc gia được cấp ngân sách 30 tỷ đồng vào năm 2016; Viện Pháp y Quân đội hoàn thành dự án nâng cấp Trung tâm giám định gen trị giá 47 tỷ đồng (với 6 cụm trang thiết bị và 53 danh mục máy móc chuyên dụng, công suất đáp ứng khoảng 4.000 mẫu hài cốt/năm).
  • Hệ thống hóa các căn cứ định lượng sinh học giúp điều tra viên và giám định viên xử lý dấu vết: các mốc co cứng cơ (1-2 giờ, 12-24 giờ, 36-48 giờ); mốc thay đổi nhiệt độ và hoen tử thi (2-4 giờ, 24-36 giờ); dấu vết ion chlor kiểm tra thời gian tồn tại của mẫu máu (dưới 7 ngày); tỷ lệ đường kính hốc tủy lông tóc (1/5 - 1/4 ở người so với 1/2 - 2/3 ở động vật).
  • Tổng hợp các mốc thời hạn tố tụng mang tính mệnh lệnh pháp lý: thời hạn giám định nguyên nhân chết (tối đa 01 tháng), xác định tuổi (tối đa 09 ngày), thời hạn gửi văn bản cho VKS (trong 24 giờ) và thời hạn thông báo kết luận cho người tham gia tố tụng (trong 07 ngày).

Đóng góp so với các công trình trước đây:

  • Các giáo trình và sách chuyên khảo trước đây (như công trình của Nguyễn Xuân Yêm năm 2012, Lê Minh Hùng năm 2011 hay Nguyễn Đăng Chiêu năm 2016) được công bố dựa trên nền tảng BLTTHS năm 2003 và Luật Giám định tư pháp năm 2012 chưa sửa đổi.
  • Khóa luận đã cập nhật toàn bộ các điểm mới của BLTTHS năm 2015 và Luật Giám định tư pháp sửa đổi, bổ sung năm 2018; đồng thời gắn kết giữa quy chuẩn kỹ thuật y sinh học với các điều luật tố tụng hình sự cụ thể (quy định về bắt buộc trưng cầu, thời hạn thông báo 24 giờ, quyền khiếu nại và trưng cầu giám định lại của đương sự).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Tác giả tự nhận định kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên chưa bao quát hết mọi tình huống phức tạp phát sinh trong thực tế điều tra các vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng.
  • Về phạm vi dữ liệu, phần khảo sát thực tiễn tại văn bản chỉ mới tiếp cận một số báo cáo chuyên đề của các cơ quan tiến hành tố tụng trong năm 2018, chưa phản ánh liên tục số liệu thống kê qua các năm gần nhất.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu thực tiễn thi hành Luật Giám định tư pháp sửa đổi năm 2018 trong mối quan hệ với các văn bản hướng dẫn tố tụng mới ban hành.
  • Thu thập và phân tích các số liệu xét xử thực tế của TAND các cấp và số liệu kiểm sát của VKSND trong giai đoạn từ năm 2019 đến nay để đánh giá toàn diện hơn về tỷ lệ kết luận giám định bị khiếu nại, yêu cầu giám định lại hoặc bị hủy bỏ trong thực tiễn tố tụng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Điều tra hình sự, Tội phạm học, Luật Tố tụng hình sự tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân và các cơ sở đào tạo luật.
  • Điều tra viên, Kiểm sát viên, Giám định viên tư pháp mới vào ngành cần nắm vững thẩm quyền, hồ sơ, thời hạn thủ tục theo quy định của BLTTHS năm 2015.

Nội dung tham khảo trọng tâm:

  • Bảng tổng hợp các kỹ thuật sinh hóa và đặc điểm giải phẫu (xác định thương tích trước/sau chết, cơ chế chấn thương do tai nạn giao thông, kỹ thuật phân tích ADN ty thể đối với hài cốt lâu năm).
  • Hệ thống hóa các quy định của pháp luật về 4 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tại Điều 206 BLTTHS năm 2015, phục vụ trực tiếp cho hoạt động lập hồ sơ điều tra và kiểm sát điều tra.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y ở Việt Nam hiện nay gồm những cơ quan nào?
Theo khoản 2 Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP, hệ thống gồm 4 tổ chức: Viện Pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế; các Trung tâm pháp y cấp tỉnh thuộc Sở Y tế; Viện Pháp y Quân đội thuộc Bộ Quốc phòng; Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an.

2. Dựa vào những biến đổi sinh học nào trên tử thi để giám định viên xác định khoảng thời gian nạn nhân tử vong?
Văn bản nêu rõ 3 dấu hiệu chính: (1) Độ giảm thân nhiệt và vết hoen (bụng còn ấm, chưa cứng: chết dưới 2-4 giờ; tử thi lạnh, cứng, hoen thành mảnh tím: chết 24-36 giờ); (2) Sự co cứng cơ (dưới 1 giờ: chưa cứng; 1-2 giờ: cứng đầu và chi trên; 12-24 giờ: cứng toàn thân; 36-48 giờ: bắt đầu mất cứng do hư thối); (3) Sự xuất hiện và chu kỳ phát triển của các loài ấu trùng côn trùng (ruồi, nhặng) tại các lỗ tự nhiên của thi thể.

3. Làm thế nào để phân biệt thương tích trên cơ thể nạn nhân hình thành trước hay sau khi chết?
Có 2 cách phân biệt chính: (1) Rửa vết thương: nếu máu bầm đã ngấm vào tổ chức dưới da và mô cơ không thể rửa sạch thì đó là tổn thương khi còn sống; nếu rửa trôi sạch ngay thì tổn thương hình thành sau khi chết; (2) Mép bờ vết thương: nếu bờ mép há rộng do phản xạ co của sợi cơ sống thì là thương tích trước chết; nếu mép khép kín do cơ mất tính đàn hồi thì là thương tích sau chết.

4. Vì sao phương pháp phân tích gen ty thể được ưu tiên hàng đầu trong giám định hài cốt lâu năm?
Hệ gen ty thể có cấu trúc mạch vòng khép kín nên có độ bền sinh học cao hơn rất nhiều so với hệ gen nhân có cấu trúc mạch thẳng. Trong điều kiện hài cốt mai táng sơ sài hoặc lâu năm, hệ gen nhân thường bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn hệ gen ty thể tồn tại trong các mô xương cứng. Đồng thời, hệ gen ty thể di truyền theo dòng mẹ, giúp xác định phả hệ huyết thống của nạn nhân.

5. Pháp luật quy định thời hạn gửi kết luận giám định pháp y đến Viện kiểm sát và thông báo cho người tham gia tố tụng là bao lâu?
Theo Điều 208 và Điều 213 BLTTHS năm 2015: trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu hoặc nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu phải gửi quyết định và kết luận đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo văn bản này cho bị can, bị cáo, bị hại và các đương sự liên quan.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã khái quát có hệ thống cơ sở lý luận về giám định pháp y, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa các kỹ thuật giám định y khoa chuyên sâu với quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Giám định tư pháp sửa đổi năm 2018. Công trình đã làm rõ vị trí của kết luận giám định pháp y với tư cách là chứng cứ khoa học khách quan, hỗ trợ công tác khởi tố, điều tra và truy xét tội phạm. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích, cung cấp các luận cứ lý luận và kỹ thuật nghiệp vụ cho sinh viên ngành kiểm sát, điều tra hình sự và cán bộ thực tiễn tư pháp.