Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm và các đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Xét trên phương diện xã hội, người dưới 18 tuổi (trước đây BLHS 1999 dùng thuật ngữ “người chưa thành niên”) là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, cũng như chưa phát triển toàn diện về nhân cách. Xét trên phương diện pháp luật, đối tượng này chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân.
Trong pháp luật của mỗi quốc gia đều quy định một độ tuổi cụ thể để một người được coi là đã có đủ năng lực để tự mình tham gia vào các quan hệ xã hội cũng như quan hệ pháp luật. Tại mỗi quốc gia, người phạm tội dưới 18 tuổi có những tên gọi khác nhau: người chưa thành niên, trẻ vị thành niên và trẻ em. Pháp luật ở các quốc gia cũng đều có quy định cụ thể về người phạm tội dưới 18 tuổi khác nhau, đa số đều quy định trong hệ thống pháp luật về độ tuổi. Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi.” [ 9] Như vậy, có thể được hiểu như sau: độ tuổi của trẻ em được pháp luật Quốc tế quy định là người dưới 18 tuổi.
Độ tuổi về người dưới 18 tuổi định trong các văn bản luật ở cấp độ cao nhất của Việt Nam trong đó có thể kế đến như: Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Cũng cần phải phân biệt khái niệm người dưới 18 tuổi với khái niệm trẻ em. Theo Luật trẻ em được Quốc hội ban hành năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Như vậy, trẻ em trong pháp luật Việt Nam có phạm vi độ tuổi 8 n thấp hơn so với người dưới 18 tuổi - đối tượng có các quy định điều chỉnh riêng biệt hơn trong các văn bản pháp luật đã nêu ở trên.
Việc lấy độ tuổi 18 tuổi làm giới hạn để xây dựng các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật hình sự nói riêng mang tính chất riêng biệt hơn là dựa trên cơ sở thực tiễn về sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và cơ sở lý luận là chính sách pháp luật (hình sự) của mỗi quốc gia. Theo đó, người dưới 18 tuổi khi tham gia vào quan hệ pháp luật hình sự sẽ có những quy định riêng biệt hơn về quyền lợi và nghĩa vụ. Theo quy định BLHS năm 2015 được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự được chia làm 2 mức, là trường hợp người từ đủ 16 tuổi trở lên và người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Như vậy 2 mức tuổi chịu TNHS là điểm đặc thù của Việt Nam về vấn đề này.
Quy định này đã chỉ rõ phạm vi chịu TNHS của những người dưới 18 tuổi, theo đó đối với “Người từ đủ 16 tuổi trở lên thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác”. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được chỉ rõ gồm 28 loại tội phạm. Về tính chất các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu là “tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [32, tr.14] và trong 28 tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nêu trên đều là các tội phạm có lỗi cố ý. Bộ luật hình sự năm 2015 đã hạn chế phạm vi chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội của người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ còn 2 tội là tội Giết người (Điều 123) và tội Cướp tài sản (Điều 168) và dù thuộc trường hợp nào trong Điều 123 và Điều 168 thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
* Việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi: 9 n Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người dưới 18 tuổi là thời điểm người đó được sinh ra, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào các giấy tờ tùy thân có giá trị pháp lý như giấy khai sinh, giấy chứng sinh, căn cước công dân (chứng minh nhân dân) và các văn bằng chứng chỉ. Thực tiễn có nhiều trường hợp bị can, bị cáo không còn hoặc còn nhưng không có đầy đủ thông tin, dữ liệu về ngày tháng năm sinh của họ, thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội Trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp mà không thể xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo, thì BLTTHS năm 2015 đã quy định tại khoản 2 Điều 417 để xác định tuổi trong các trường hợp sau: + Nếu xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh. + Nếu xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh. + Nếu xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh. + Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi (tức là giám định ADN) Về cách tính tuổi của người phạm tội làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt là thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp người đó thực hiện hành vi phạm tội kéo dài nhưng kế tiếp nhau về mặt thời gian, có hành vi người đó chưa đủ tuổi, có hành vi thực hiện đã đủ tuổi thì phải lấy hành vi cuối cùng để xem xét trách nhiệm hình sự. Để xác định một người dưới 18 tuổi phạm tội phải có đầy đủ các căn cứ sau: 10 n - Người dưới 18 tuổi phải thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS.
- Người đó thực hiện một tội phạm mà Điều 12 BLHS quy định. Trên cơ sở những yếu tố đã nêu trên đây, tác giả xin nêu ra khái niệm về người phạm tội dưới 18 tuổi như sau: Người dưới 18 tuổi phạm tội là cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mà họ đã tiến hành thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Các chính sách pháp luật tư pháp hình sự của Việt Nam đối với việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Chính sách hình sự của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật hình sự, tăng cường việc bảo vệ các quyền và tự do của người dưới 18 tuổi phạm tội, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước bằng pháp luật hình sự, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện. Những nguyên tắc này xuất phát từ việc ghi nhận đầy đủ và thể hiện rõ nét nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Công ước về quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan; đồng thời thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ, giáo dục trẻ em nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.
Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được thể hiện thông qua một số nội dung sau: Thứ nhất, Theo quy định thì việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải tính toán đến yếu tố sao cho đạt được lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Nguyên tắc đảm bảo tốt nhất này đòi hỏi, các tổ chức tiến hành tố tụng 11 n sẽ phải đáp ứng được lợi ích tốt nhất cho họ khi tiến hành tố tụng, đồng thời đảm bảo hài hòa với lợi ích khác và sự nghiêm minh của pháp luật. Thứ hai, người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS trong những trường hợp cụ thể khi xét thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ là không cần thiết. Đây là nguyên tắc xác định vấn đề miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Theo nguyên tắc, người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS ngoài những trường hợp áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội. Hay nói các khác, quy định này bổ sung thêm trường hợp miễn TNHS được áp dụng riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội ngoài các trường hợp được quy định áp dụng chung cho người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội. Thứ ba, Trong trường hợp cần thiết thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, còn không thì áp dụng các biện pháp xử lý thay thế khác. Nguyên tắc này xác định TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được thực hiện như sau: trước tiên Tòa án xem xét miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một số biện pháp giám sát hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng → nếu không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa → áp dụng hình phạt → áp dụng các hình phạt không tước tự do → nếu không có tác dụng răn đe, phòng ngừa → áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
Cũng theo nguyên tắc này, cách tiếp cận trong việc áp dụng chế tài đối với người dưới 18 tuổi là ưu tiên áp dụng các biện pháp không tước đi tự do, hình phạt nói chung và phạt tù nói riêng chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác.