Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỐN THUẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm về trách nhiệm hình sự đối với tội trốn thuế 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trƣớc đây, TNHS đƣợc định nghĩa “là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội” [32, tr. Ngày nay, với tƣ cách là một khái niệm khoa học hình sự quan trọng, TNHS đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau và tồn tại những quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm pháp lý này.TSKH Đào Trí Úc cho rằng: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [33, tr.
Quan điểm này nhìn nhận TNHS dƣới góc độ là một loại hậu quả pháp lý đối với một loại vi phạm pháp luật, đó là tội phạm. Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chƣa phân biệt đƣợc thật rõ nét giữa TNHS với một số hậu quả pháp lý khác nhƣ hậu quả pháp lý của việc vi phạm hành chính, bởi lẽ ngƣời vi phạm hành chính cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trƣớc Nhà nƣớc GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nƣớc và ngƣời phạm tội, đƣợc thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với ngƣời thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và đƣợc bắt đầu từ khi truy cứu TNHS đối với một ngƣời [13, tr. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa này nhìn nhận TNHS dƣới góc độ là một trong những dạng trách nhiệm pháp lý, bên cạnh những dạng trách nhiệm pháp lý khác trong các mối quan hệ xã hội đƣợc pháp luật điều chỉnh. Nhìn nhận TNHS dƣới góc độ là một loại hậu quả pháp lý, GS.
Lê Cảm đã đƣa ra một định nghĩa mang tính chất khái quát những nét đặc trƣng cơ bản một cách súc tích đối với khái niệm TNHS: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [6, tr. Cùng nhìn nhận khái niệm TNHS dƣới bình diện là một loại hậu quả pháp lý, tuy nhiên PGS.TS Trần Văn Độ lại nhấn mạnh vào vai trò của Tòa án khi định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nước, đối với người phạm tội” [10, tr. Một số nhà nghiên cứu khác lại nghiên cứu TNHS dƣới cả hai góc độ nhƣ GS. Đỗ Ngọc Quang khi định nghĩa: TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mực độ nguy hiểm của hành vi mà ngƣời đó đã thực hiện [18, tr.
Đồng quan điểm đó, TS. Trịnh Tiến Việt cho rằng: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và đƣợc thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc do BLHS quy định đối với ngƣời phạm tội [35, tr. BLHS 2015 ra đời đánh dấu một trong những thay đổi quan trọng trong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức về chủ thể của TNHS. Điều 2 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã khẳng định: “1.
Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS; 2. Chỉ PNTM nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS”. Theo đó, đây là lần đầu tiên pháp luật ghi nhận và điều chỉnh trong BLHS quy định về TNHS đối với một chủ thể khác ngoài cá nhân, đó là PNTM. Từ những phân tích trên, dƣới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, đồng thời có sự cập nhật chế định mới của BLHS, tác giả xin đƣa ra định nghĩa về TNHS nhƣ sau: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý đối với việc thực hiện tội phạm, thể hiện ở việc các chủ thể của TNHS phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định.
Khái niệm tội trốn thuế Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nƣớc khi đáp ứng những điều kiện nhất định [30, tr. Mặt khác theo Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” [22, Điề u 47]. Việc nộp thuế là nghĩa vụ của mọi công dân khi rơi vào các điều kiện mà pháp luật quy định thì đều phải nộp thuế, đây chính là một trong những dẫn chứng thể hiện tính bắt buộc của việc nộp thuế. Các khoản thu từ thuế đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, an ninh quốc phòng, chế độ phúc lợi công cộng, giao thông công cộng.
Nhƣ vậy, việc các chủ thể trích phần thu nhập của mình nộp thuế cho Nhà nƣớc không phải trên tinh thần tự nguyện mà dựa trên quy định bắt buộc của pháp luật thuế. Do đó, tình trạng trốn, gian lận thuế để tăng phần thu nhập thực hƣởng, tối đa hóa lợi nhuận rất dễ dàng xảy ra. Hành vi trốn thuế có thể đƣợc hiểu nhƣ những phân tích dƣới đây. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo từ điển luật học: “Hành vi trốn thuế được hiểu là (hành vi xâm phạm đến chính sách thuế của Nhà nước thông qua việc chủ thể) không hành động hoặc hành động không đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế” [34, tr.
Nguyễn Mai Bộ cho rằng “Trốn thuế là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để không phải đóng thuế hoặc đóng thuế ít hơn mức thuế phải nộp” [5, tr.119] hay có tác giả, TS. Đinh Văn Quế chỉ đƣa ra định nghĩa đơn giản: “Trốn thuế là không nộp thuế cho Nhà nước theo quy định của pháp luật” [19, tr. Pháp luật hiện hành không có quy định nào định nghĩa hành vi trốn thuế là gì mà liệt kê những hành vi nào bị coi là trốn thuế. Luật quản lí thuế 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 quy định các hành vi bị coi là trốn thuế bao gồm các hành vi sau: - Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín mƣơi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 điều 32 của Luật này hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật này; - Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; - Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán; - Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế đƣợc miễn, số tiền thuế đƣợc giảm hoặc tăng số tiền thuế đƣợc khấu trừ, số tiền thuế đƣợc hoàn; - Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế đƣợc hoàn; - Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan trong thời gian sáu mƣơi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; - Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; - Cấu kết với ngƣời gửi hàng để nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích trốn thuế; - Sử dụng hàng hoá đƣợc miễn thuế không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế.
Có thể nhận thấy, các tiêu chí xác định một hành vi bị coi là trốn thuế bao gồm: - Chủ thể của hành vi trốn thuế là cá nhân, tổ chức thuộc đối tƣợng nộp thuế; - Chủ thể này đã thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật thuế; - Hậu quả của hành vi vi phạm là dẫn đến việc làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế đƣợc hoàn hoặc đƣợc miễn, giảm. Bằng những phân tích trên chúng ta có thể hiểu: Trốn thuế là hành vi của các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến hậu quả làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn giảm, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên đối với hành vi trốn thuế khi thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm thì còn bị truy cứu TNHS. Đây là đặc điểm quan trọng cho thấy mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi trốn thuế.
Nhƣ vậy, hành vi trốn thuế tùy vào mức độ khác nhau có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Vậy khi nào thì hành vi trốn thuế cấu thành tội trốn thuế? Theo quy định tại điều 8 BLHS năm 2015 thì: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có năng lực TNHS hoặc PNTM thực hiện 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con ngƣời, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [24, Điề u 8, Khoản 1].