Đặt vấn đề truy cứu TNHS của pháp nhân - con người pháp lý, không thể tự mình thực hiện hành vi như cá nhân theo nghĩa thông thường, mà hành vi của pháp nhân luôn được thực hiện thông qua hành vi của con người cụ thể thuộc về pháp nhân. Điều này đặt ra cần phải xem xét lại quan niệm về TNHS theo nghĩa thông thường. Các vấn đề như: (i) hành vi phạm tội của pháp nhân được thực hiện như thế nào; (ii) pháp nhân có thái độ tâm lý, có thể tính đến 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố chủ quan, yếu tố lỗi như quan điểm truyền thống hay không; (iii) toàn bộ pháp nhân có phải chịu TNHS đối với hành vi do một số cá nhân thực hiện hay không. đã và đang là chủ đề nghiên cứu của giới khoa học luật hình sự nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vướng mắc về mặt lý luận trong việc áp dụng TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, các nhà hình sự học trên thế giới đã đưa ra các học thuyết làm nền tảng và luận giải cho vấn đề này. Tham khảo kinh nghiệm thế giới, Khoa học luật hình sự thế giới ghi nhận các học thuyết cơ bản sau đây: Thứ nhất, học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability). Theo học thuyết này, bất cứ điều gì mà người làm công, người làm đại lý cho tổ chức, pháp nhân thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa tổ chức, pháp nhân với nhân viên theo quy định của pháp luật đều được coi là chính do tổ chức, pháp nhân thực hiện. Người làm công, làm đại lý phải thực hiện những công việc mà người chủ (hoặc tổ chức, pháp nhân) giao, đồng thời phải tuân thủ những nội quy, quy định mà người chủ (tổ chức, pháp nhân) đề ra.
Cho nên, khi có sai phạm của người làm công, người làm đại lý thì người chủ, tổ chức, pháp nhân phải gánh chịu trách nhiệm. Trách nhiệm thay thế được áp dụng không chỉ vì nó lý giải mang tính hợp lý, gần gũi với pháp luật dân sự, pháp luật hành chính mà còn vì hiệu quả thực tế mang nó mang lại. Việc buộc tổ chức, pháp nhân phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của người làm công, người làm đại lý (bao gồm hình phạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.) sẽ có tính hiệu quả hơn vì khả năng thực tài chính của tổ chức, pháp nhân. Đồng thời tính phòng ngừa của học thuyết này cũng rất quan trọng, bởi vì việc áp dụng TNHS buộc pháp nhân phải có những biện pháp hạn chế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, nâng cao trách nhiệm trong quản lý, kiểm soát nhân viên, đòi hỏi nhân viên thực hiện các hoạt động phù hợp pháp luật.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù vậy, học thuyết này có một nhược điểm là có phạm vi quá rộng khi quy định tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS trong trường hợp bất kỳ một nhân viên, đại lý nào (với chức vụ bất kỳ) có hành vi phạm tội vì lợi ích tổ chức, pháp nhân. Điều này càng bất cập trong thời đại công nghiệp, toàn cầu hóa với các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế có hàng vạn nhân công hiện nay. Thứ hai, học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability). tư tưởng chính của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm thể hiện cơ bản ở chỗ học thuyết này coi hành vi và lỗi của những người quản lý (chỉ đạo, điều hành) tổ chức, pháp nhân như chính là hành vi, lỗi của tổ chức, pháp nhân.
Nói cách khác, hành vi, lỗi của tổ chức, pháp nhân được đánh giá thông qua hành vi, lỗi của cá nhân những người chỉ huy, quản lý, điều hành tổ chức, pháp nhân đó. Ví dụ, Điều 47 Luật công ty của Israel năm 1999 quy định: "Những hành vi và những ý định của một cơ quan hoặc cá nhân quản lý cũng chính là hành vi, ý định của công ty". Vì vậy, khi nhân viên quản lý của công ty thực hiện hành vi phạm tội thì đồng thời, ngay lập tức và một cách trực tiếp, hành vi đó được coi là hành vi phạm tội của công ty. Hai điều kiện cần và đủ để truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân là: (1) Hành vi phạm tội do người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân đó thực hiện nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho tổ chức, pháp nhân; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân.
Ưu điểm của học thuyết này là đơn giản hóa nhận thức và thủ tục truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Để truy cứu TNHS tổ chức, pháp nhân, người ta chỉ cần chứng minh hành vi, lỗi của các cá nhân và các cá nhân đó có chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân. Điểm đáng lưu ý nhất của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm chính là xác định người quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân. Với rất nhiều loại hình tổ chức, pháp nhân với hình thức hoạt động, kinh doanh rất khác nhau, việc có được một tiêu chuẩn cứng để 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác định các chủ thể này là điều rất khó khăn mà phải chấp nhận sự suy xét, đánh giá chủ quan.
Do đó pháp luật của một số quốc gia đã cố gắng đưa ra các tiêu chuẩn mang tính quy tắc chung để xác định vấn đề này. Thứ ba, học thuyết hệ thống/ văn hóa (Systems/Culture Theory). Đây là một trong những học thuyết xuất hiện muộn hơn trong giải quyết vấn đề TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Khác với học thuyết trách nhiệm thay thế hay học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm khi đánh giá tội phạm thông qua người làm công hoặc người quản lý, chỉ huy, điều hành của tổ chức, pháp nhân (tức chủ thể của hành vi phạm tội), học thuyết hệ thống/văn hóa xác định tội của tổ chức, pháp nhân thông qua đánh giá vấn đề văn hóa của tổ chức, pháp nhân và thực hiện các quy định đó trong thực tế.
Theo học thuyết này, tổ chức, pháp nhân được coi là đã ủy quyền hoặc cho phép nhân viên của mình thực hiện hành vi phạm tội nếu chứng minh được rằng văn hóa mà tổ chức, pháp nhân đó đang duy trì đã tạo ta ở người thực hiện hành vi phạm tội tâm lý cho rằng tổ chức, pháp nhân khuyến khích, hoặc ít nhất là chấp nhận những hành vi như vậy. Nói cách khác, văn hóa mà pháp nhân đang duy trì vô hình chung đã thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các nhân viên tổ chức, công ty thực hiện hành vi phạm tội hoặc ít nhất là không ngăn cản hình vi đó. Vì vậy, để truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, cần phải có ba yếu tố: Thứ nhất, có hành vi phạm tội của nhân viên tổ chức, công ty; thứ hai, nhân viên đó thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, thẩm quyền được giao hoặc ủy quyền; thứ ba, thông qua văn hóa tổ chức, pháp nhân có chứng cứ cho thấy rằng nhân viên thực hiện hành vi phạm tội đó nhận thức được rằng tổ chức, pháp nhân đã chỉ đạo, ủng hộ hay không phản đối hành vi mà họ thực hiện hoặc có lỗi là đã không tạo ra và duy trì một kiểu văn hóa đòi hỏi sự thuân thủ pháp luật trong phạm vi tổ chức, công ty.3 BLHS Australia quy định rằng ý định, nhận thức hay sự khinh suất sẽ được quy kết cho pháp nhân nếu chúng được thể hiện một cách rõ ràng hoặc ngầm hiểu trong việc ủy quyền hoặc cho phép thực hiện hành vi phạm tội. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com So với học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (chỉ thông qua hành vi của lãnh đạo, chỉ huy, người quản lý, nhân viên cấp cao), học thuyết văn hóa pháp nhân xác định phạm vi TNHS của tổ chức, pháp nhân rộng hơn; bất kỳ hành vi phạm tội nào của nhân viên tổ chức, pháp nhân cũng có thể được quy kết cho tổ chức, pháp nhân.
Tuy nhiên, học thuyết này có hạn chế ở chỗ do "văn hóa" pháp nhân được hình thành và ghi nhận có thể thành văn hoặc bất thành văn, cho nên việc chứng minh rằng tổ chức, pháp nhân đã khuyến khích, động viên hoặc ngầm đồng ý, chấp nhận cho cá nhân thực hiện hành vi phạm tội để trên cơ sở đó có thể truy cứu TNHS tổ chức, pháp nhân là một việc làm rất phức tạp và khó khăn trong thực tiễn. Nghiên cứu các học thuyết này cho thấy chúng cũng rất gần với các học thuyết đã phân tích trên về cách lý giải cũng như điều kiện áp dụng. Các học thuyết được phân tích trên chủ yếu được thực hiện ở các quốc gia theo hệ thống thông luật (common law) vốn không thật chặt chẽ, cụ thể trong luật nội dung. Các học thuyết trách nhiệm thay thế, đồng nhất trách nhiệm được áp dụng chủ yếu ở Hoa kỳ, Anh, Canada…; còn học thuyết văn hóa/hệ thống chủ yếu được áp dụng tại Australia [29].
Nói tóm lại, dù có cách lý giải khác nhau về TNHS của tổ chức, pháp nhân nhưng các học thuyết có ba điểm chung là: Thứ nhất, tổ chức, pháp nhân bao giờ cũng phải chịu TNHS thông qua hành vi phạm tội của cá nhân thuộc về pháp nhân. Không có hành vi của cá nhân thì không có TNHS của pháp nhân. Từ luận điểm này, một số ý kiến cho rằng: pháp nhân không thể thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt vấn đề đối với hành vi phạm tội của pháp nhân và tư cách chủ thể của tội phạm của pháp nhân mà chỉ nói đến pháp nhân với tư cách là chủ thể của TNHS. Về vấn đề này, tác giả cho rằng, không nên đồng nhất hóa một cách tuyệt đối hành vi của cá nhân và hành vi của pháp nhân, vì nếu như theo quan điểm trên, chúng ta khó có thể lý giải trường hợp hành vi phạm tội của pháp 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhan là tập hợp của rất nhiều hành vi của cá nhân.
Mặt khác, trong khoa học luật hình sự, chỉ nói đến TNHS của một chủ thể khi chủ thể đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội (dù đó là cá nhân hay pháp nhân). Thứ hai, giữa tổ chức, pháp nhân và thể nhân bao giờ cũng tồn tại mối quan hệ ràng buộc nhất định.