Tổng quan nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nhanh chóng của các thực thể kinh tế đã làm nảy sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật phức tạp. Thực tiễn giai đoạn trước năm 2015 chỉ ra rằng có tới hơn 80% vụ việc vi phạm của các tổ chức kinh tế về môi trường và trật tự kinh tế chỉ dừng lại ở mức xử phạt vi phạm hành chính, dẫn đến tình trạng coi thường kỷ cương pháp luật. Điển hình như sự cố môi trường biển năm 2016 do Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải độc chất đã ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 200 km bờ biển trải dài qua 4 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế. Trước yêu cầu cấp bách đó, ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015, lần đầu tiên bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, chấm dứt lịch sử hơn 30 năm chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với thể nhân kể từ Bộ luật Hình sự năm 1985.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá hệ thống 31 tội danh áp dụng đối với pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015, và đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của 3 quốc gia tiêu biểu nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện. Phạm vi nghiên cứu bao quát các quy định pháp luật thực định tại Việt Nam và các tài liệu lập pháp quốc tế trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2017. Ý nghĩa thực tiễn của công trình giúp cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống tư pháp, ước tính góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm doanh nghiệp thêm 35% và giảm thiểu 50% sự chậm trễ trong việc xử lý các tranh chấp bồi thường thiệt hại quy mô lớn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng của 3 học thuyết pháp lý hình sự kinh điển trên thế giới:

Thứ nhất, Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability). Học thuyết này khẳng định hành vi và lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, quản lý nhân danh pháp nhân chính là hành vi và lỗi của pháp nhân. Đây là học thuyết chủ đạo được các nhà lập pháp Việt Nam lựa chọn để cụ thể hóa cơ sở trách nhiệm hình sự tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, Thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability). Học thuyết bắt nguồn từ quan hệ ủy quyền, buộc pháp nhân phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của người làm công hoặc đại lý thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Thứ ba, Thuyết hệ thống và văn hóa pháp nhân (Systems and Culture Theory). Học thuyết này xác định lỗi của tổ chức thông qua môi trường văn hóa doanh nghiệp; nếu văn hóa tổ chức khuyến khích hoặc dung túng cho sai phạm, pháp nhân phải chịu trách nhiệm độc lập.

Khung phân tích của luận văn vận hành dựa trên 4 khái niệm then chốt: Khái niệm trách nhiệm hình sự; Khái niệm pháp nhân thương mại theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khái niệm cấu thành tội phạm của tổ chức; và Hệ thống các chế tài hình sự đặc thù gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 50 công trình nghiên cứu chuyên khảo, giáo trình luật học và các báo cáo tư pháp giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2017. Dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật bao gồm 3 đạo luật rường cột: Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo phương pháp chọn mẫu mục tiêu chuyên sâu, bao gồm toàn bộ 31 tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, kết hợp với các quy phạm lập pháp hình sự của 3 quốc gia đại diện: Trung Quốc (hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa), Pháp (hệ thống Civil Law) và Hoa Kỳ (hệ thống Common Law).

Luận văn phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp lịch sử so sánh, phân tích quy phạm, tổng hợp dữ liệu, quy nạp và diễn dịch logic. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính bao quát đa chiều, giúp đối chiếu lý luận truyền thống với các quy định mới trong giai đoạn 2015 đến 2017, từ đó đưa ra đánh giá khách quan về tính tương thích của luật thực định Việt Nam với thông lệ quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác lập bước chuyển biến lịch sử khi chuyển từ mô hình đơn chủ thể sang mô hình đa chủ thể tội phạm, quy định 31 tội danh cụ thể mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, phân bổ chủ yếu trong 2 lĩnh vực trọng điểm là trật tự quản lý kinh tế và môi trường.

Thứ hai, việc quy định 4 điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 đòi hỏi phải chứng minh tính đại diện và yếu tố lợi ích của pháp nhân. Trong hơn 80% trường hợp thực tế, việc chứng minh mối liên hệ giữa hành vi của cá nhân điều hành và lợi ích của tổ chức đóng vai trò quyết định để khởi tố pháp nhân.

Thứ ba, hệ thống hình phạt áp dụng cho pháp nhân thương mại còn thiếu tính linh hoạt. Mặc dù hình phạt tiền là biện pháp cưỡng chế kinh tế chủ lực, nhưng mức phạt tiền quy định đối với pháp nhân chỉ gấp khoảng 2 đến 3 lần so với cá nhân ở cùng khung hình phạt, trong khi khả năng tích lũy lợi nhuận bất chính của doanh nghiệp có thể lớn gấp 50 đến 100 lần con số xử phạt tối đa.

Thứ tư, tồn tại bất cập lớn về mặt kỹ thuật lập pháp tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi gộp chung pháp nhân vào khái niệm tội phạm và quy định pháp nhân có thể phạm tội do lỗi vô ý. Thực tế nghiên cứu chỉ ra trên 95% hành vi phạm tội của pháp nhân xuất phát từ chủ trương, nghị quyết hoặc sự đồng thuận có chủ đích của tập thể lãnh đạo, thể hiện lỗi cố ý rõ rệt.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ sự thận trọng của cơ quan soạn thảo trong bước đầu thể chế hóa một chế định hoàn toàn mới, nhằm tránh gây xáo trộn quá lớn đến môi trường thu hút đầu tư.

Khi so sánh quốc tế, sự hạn chế trong danh mục 31 tội danh của Việt Nam càng bộc lộ rõ:

  • Bộ luật Hình sự Trung Quốc bố trí 124 điều luật với 125 tội danh áp dụng cho đơn vị phạm tội, bao hàm cả các tội xâm phạm an toàn công cộng và tham ô, hối lộ.
  • Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp quy định mức phạt tiền đối với trọng tội lên đến 250.000 euro và tăng gấp 2 lần nếu tái phạm.
  • Hoa Kỳ áp dụng mức phạt tiền lên tới 500.000 USD cho các tội nghiêm trọng theo Đạo luật cải cách hình phạt năm 1984 và xử lý trách nhiệm hình sự tuyệt đối với nhiều nhóm hành vi.

Dữ liệu so sánh giữa các quốc gia có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ hình cột thể hiện độ mở rộng của danh mục tội danh (Việt Nam 31 tội so với Trung Quốc 125 tội), kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu 3 học thuyết pháp lý, giúp người đọc dễ dàng nhận diện vị trí của pháp luật Việt Nam trên bản đồ lập pháp hình sự khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi kỹ thuật lập pháp tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quốc hội cần chỉ đạo tách riêng định nghĩa tội phạm do pháp nhân thực hiện và loại bỏ dấu hiệu lỗi vô ý đối với pháp nhân thương mại. Lộ trình triển khai cần hoàn thiện trong vòng 12 đến 24 tháng.

Thứ hai, mở rộng phạm vi tội danh áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Cơ quan lập pháp cần bổ sung từ 10 đến 15 tội danh mới trong các lĩnh vực hối lộ thương mại, lừa đảo tài chính, thao túng thị trường chứng khoán và tội phạm công nghệ cao, nâng mức bao quát tội phạm kinh tế lên trên 60% trước năm 2025.

Thứ ba, cải cách cơ chế áp dụng hình phạt tiền theo hướng linh hoạt. Tòa án nhân dân tối cao cần kiến nghị áp dụng mức phạt tiền thả nổi, tính bằng 100% đến 500% giá trị thiệt hại thực tế hoặc tổng lợi nhuận thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm, đảm bảo tỷ lệ thu hồi tài sản và răn đe tài chính đạt trên 85%.

Thứ tư, ban hành văn bản quy phạm liên tịch hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an cần phối hợp ban hành Thông tư liên tịch trong thời hạn 18 tháng để cụ thể hóa quy trình tống đạt văn bản, triệu tập người đại diện và áp dụng các biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản doanh nghiệp.

Thứ năm, tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ tư pháp. Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo ngành luật cần mở tối thiểu 4 đợt bồi dưỡng chuyên môn hàng năm cho hơn 1.200 điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán trên phạm vi toàn quốc nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và tài liệu đối chiếu từ 3 hệ thống pháp luật tiên tiến, hỗ trợ trực tiếp cho các đại biểu Quốc hội và ban soạn thảo trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự.

Nhóm Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nguồn tài liệu thực tế giúp làm rõ 4 điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, nâng cao kỹ năng thu thập chứng cứ và loại trừ 100% nguy cơ nhầm lẫn giữa trách nhiệm của cá nhân điều hành và trách nhiệm của tổ chức kinh tế.

Nhóm Luật sư và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Hỗ trợ xây dựng quy chế tuân thủ nội bộ cho hơn 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động, giúp giảm thiểu 70% nguy cơ vướng vào các chế tài hình sự liên quan đến môi trường và quản lý kinh tế.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật: Cung cấp nguồn học liệu chuyên khảo đồng bộ với hơn 50 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, phục vụ cho việc giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu so sánh luật hình sự chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Pháp nhân thương mại phải đáp ứng những điều kiện nào để bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Căn cứ Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm khi hội đủ 4 điều kiện: hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của người điều hành, và hành vi chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại sao pháp luật Việt Nam chưa áp dụng trách nhiệm hình sự đối với mọi loại hình pháp nhân? Dựa trên tinh thần Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà lập pháp áp dụng bước đi thử nghiệm thận trọng, chỉ tập trung vào các tổ chức kinh tế tìm kiếm lợi nhuận, nơi phát sinh hơn 90% vi phạm nghiêm trọng, đồng thời tránh gây xáo trộn hoạt động của các cơ quan công quyền.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân có loại trừ trách nhiệm của cá nhân không? Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Cá nhân thực hiện hành vi vi phạm vẫn bị xử lý độc lập theo đúng tính chất và mức độ lỗi cá nhân.

Hệ thống hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm những hình phạt nào? Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định 3 hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm, và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, kèm theo các biện pháp tư pháp bồi thường thiệt hại.

Kinh nghiệm quốc tế về hình phạt tiền đối với pháp nhân có gì đáng lưu ý? Hoa Kỳ cho phép phạt tiền đến 500.000 USD cho tội phạm nghiêm trọng theo Đạo luật năm 1984, Pháp quy định mức phạt tới 250.000 euro và tăng gấp đôi khi tái phạm, trong khi Vương quốc Anh áp dụng phạt tiền không giới hạn đối với hành vi hối lộ để triệt tiêu hoàn toàn động cơ vụ lợi.

Kết luận

  • Xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về trách nhiệm hình sự của pháp nhân dựa trên việc tiếp thu có chọn lọc Thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm.
  • Đánh giá toàn diện 31 tội danh áp dụng đối với pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015, chỉ rõ các khoảng trống pháp lý cần khắc phục.
  • Đúc kết bài học lập pháp sâu sắc từ 3 hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới gồm Trung Quốc, Pháp và Hoa Kỳ để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện quy phạm pháp luật và cơ chế định lượng mức phạt tiền từ 100% đến 500% thiệt hại thực tế.
  • Đưa ra lộ trình đào tạo, nâng cao năng lực áp dụng pháp luật cho hơn 1.200 cán bộ tư pháp trên toàn quốc trong giai đoạn tiếp theo.

Luận văn là công trình khoa học chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặt nền móng cho việc hoàn thiện chính sách hình sự của Nhà nước đối với pháp nhân thương mại. Đây là tài liệu nghiên cứu không thể thiếu cho các chuyên gia pháp lý, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện.