Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tai nạn lao động và pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động và thực tiễn tại thành phố Hà Nội Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội. -7- CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG 1.1 Khái quát chung về tai nạn lao động và trách nhiệm của ngƣời sử dụng với ngƣời lao động bị tai nạn lao động 1.1 Khái niệm về tai nạn lao động 1.1 Định nghĩa tai nạn lao động Tai nạn lao động là nội dung đang còn có nhiều ý kiến khác nhau ở trong nước và ở nhiều nước trên thế giới. Để có được một chính sách đúng đối với người bị tai nạn lao động, mỗi quốc gia có những cách tiếp cận riêng và có những quy định khác nhau về tai nạn lao động (kể cả khái niệm và nội dung). Ban đầu, tai nạn lao động chỉ được hiểu là "Một sự việc không bình thường, không mong muốn xảy ra" trong quá trình sản xuất.
Khi nền công nghiệp phát triển, nhất là các ngành công nghiệp khai khoáng, hầm mỏ, tai nạn lao động xảy ra thường xuyên hơn và người sử dụng phải có trách nhiệm ràng buộc chặt chẽ hơn với những tai nạn lao động của người công nhân, thì khái niệm tai nạn lao động được hoàn thiện hơn. Đến nay, mặc dù vẫn còn có những nhận thức khác nhau về tai nạn lao động, nhưng các quốc gia nói chung đã thống nhất "tai nạn lao động là những tai nạn bất ngờ xảy ra trong quá trình lao động, gây chết người hoặc làm tổn thương hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể con người".74] Từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis định nghĩa: tai nạn lao động là một sự kiện không được lập kế hoạch, không biết trước và không mong muốn có thể hoặc gây thiệt hại về thể chất và/hoặc phá hủy tài sản; hoặc bất kỳ sự kiện nào không mong muốn gây trở ngại hoặc cản trở quy trình sản xuất hoặc một quá trình. Từ điển Lewis khi định nghĩa về tai nạn lao động đã tập trung vào ý chí của các chủ thể khi tai nạn lao động xảy ra – “không mong muốn” và “không biết trước”, đồng thời cách định nghĩa này làm rõ hậu quả gây ra từ tai nạn lao động, có thể là thiệt hại cho con người hoặc tài sản, -8- thiệt hại này có thể là thiệt hại thực tế hoặc “đe dọa” gây thiệt hại, thiệt hại này tác động trực tiếp tới quá trình làm việc và sản xuất. Tại khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 định nghĩa về tai nạn lao động như sau: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.
Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc. Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo. Giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội lại định nghĩa tai nạn lao động như sau: tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kì bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tai nạn lao động là làm việc không đảm bảo an toàn lao động [34, tr.
Khái niệm này khá đầy đủ, bao quát, toàn diện là cơ sở xác định tai nạn lao động được đúng hướng, hiệu quả. Quan điểm của giáo trình đã xoáy sâu trọng tâm, xác định thời gian, địa điểm, phạm vi. xảy ra tai nạn lao động làm cơ sở khoa học cho việc xác định và giải quyết tai nạn lao động. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tai nạn lao động nhưng nhìn chung đều thống nhất cách hiểu tai nạn lao động là những tai nạn xảy ra bất ngờ, con người không thể dự báo trước về không gian và thời gian, gắn với quá trình làm việc của người lao động trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể, để lại hậu quả chết người hoặc làm tổn thương, hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể người lao động.
Có thể nói, so với quan điểm của thế giới thì cách định nghĩa về tai nạn lao động của Việt Nam trong văn bản pháp lý đã khá đầy đủ, chính xác và rõ ràng.2 Đặc điểm của tai nạn lao động Thứ nhất, về chủ thể: Người bị tai nạn lao động là người lao động làm việc trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn, tuân thủ nội quy, quy định của công ty và đóng góp trực tiếp công sức của mình vào sự phát triển của công ty. Thứ hai, tai nạn lao động ảnh hưởng trực tiếp và để lại hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, vật chất cũng như tinh thần cho người lao động, gây ra tổn thương như: gãy chân tay, chấn thương cùng với những thiệt hại về của cải vật chất. Có thể nói, hậu quả của tai nạn lao động là những rủi ro mà người sử dụng và người lao động đều không mong muốn xảy ra. Thực chất tai nạn lao động không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động mà còn tác động xấu đến quá trình vận hành sản xuất của đơn vị sử dụng lao động.
Thứ ba, tai nạn lao động xảy ra một trong ba nơi sau đây: tại nơi làm việc, ngoài địa điểm làm việc, trên tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại. Ngoài những địa điểm trên thì không được coi là địa điểm xảy ra tai nạn lao động. Việc xác định địa điểm xảy ra tai nạn lao động là căn cứ quan trọng để người sử dụng cũng như cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện các trách nhiệm của mình. Việc xác định địa điểm xảy ra tai nạn lao động có yếu tố gắn với việc thực hiện công việc mà người sử dụng giao cho mang tính chất tiên quyết, trên cơ sở tình hình thực tế thì địa điểm nảy có thể xác định một cách linh hoạt như trên tuyến đường đi và về hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại.
Điều này góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động khi xảy ra các sự kiện tai nạn lao động không mong muốn. Thứ tư, về yếu tố thời gian trong tai nạn lao động thì đó là khoảng thời gian gắn liền với địa điểm xảy ra tai nạn lao động, có thể là trong giời làm việc hoặc trong giờ nghỉ giải lao. Thời giờ làm việc được xác định cụ thể là ban ngày hoặc ban đêm, không quá 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần (không tính thời giờ khác). Thời gian xảy ra tai nạn lao động còn được tính từ là thời gian - 10 - ngoài giờ làm việc khi người lao động thực hiện yêu cầu của người sử dụng, đang trên đường đi làm hoặc trên đường về nhà.
Thứ năm, tai nạn lao động không chỉ phát sinh từ các yếu tố độc hại, nguy hiểm trong thời gian làm việc mà còn có thể do các trở ngại khách quan như hỏa hoạn, động đất, dịch bệnh. Các yếu tố này mặc dù không phát sinh từ công việc mà do các yếu tố thiên tai từ thiên nhiên tác động nhưng nếu nó ảnh hưởng, gây thiệt hại, tổn thất cho người lao động thì cũng được coi là tai nạn lao động, miễn là tai nạn xảy ra khi người lao động đang làm việc, thực hiện yêu cầu công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Như vậy, có thể nói, dấu hiệu quan trọng nhất để xác định tai nạn lao động là tai nạn đó luôn gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ của người lao động. Chỉ được coi là tai nạn lao động khi tai nạn đó xảy ra trong quá trình người lao động thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, theo nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động…Vì vậy, tai nạn lao động bao gồm những đặc điểm trên, đặc điểm nào cũng quan trọng và là cơ sở để xác định tai nạn lao động và có được mức bồi thường đúng đắn, thỏa đáng cho người lao động trên thực tế.2 Khái niệm trách nhiệm của ngƣời sử dụng đối với ngƣời lao động bị tai nạn lao động 1.
Định nghĩa trách nhiệm của người sử dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động Trách nhiệm của người sử dụng đối với người lao động bị tai nạn lao động được hiểu là những nghĩa vụ, trách nhiệm mà người sử dụng phải thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người bị tai nạn lao động, thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn nghiêm trọng và tình hình thực hiện công tác bảo hộ lao động. Khi xảy ra tai nạn lao động, một trong những nội dung quan trọng đó là việc giải quyết các chế độ tai nạn lao động đó. Việc giải quyết tai nạn lao động này cần phải đảm bảo quyền lợi của người lao động, hạn chế thấp nhất hậu quả xảy ra cho - 11 - các bên trong quan hệ lao động và bên thứ ba, đồng thời để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động. Do đó, để giải quyết tai nạn lao động, đầu tiên cần xác định được tai nạn đó có phải là tai nạn lao động hay không? Việc xác định này dựa trên tình hình thực tế về người bị tai nạn, hậu quả của tai nạn, địa điểm, thời gian, nguyên nhân xảy ra tai nạn.