Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 1. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của cuộc cách mạng công nghiệp hóa đã làm cuộc sống ngày càng văn minh hiện đại hơn nhưng cũng kéo theo sự gia tăng những tai nạn mang tính khách quan nằm ngoài khả năng chi phối, kiểm soát của con người. Trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều những sự vật mà bản thân sự tồn tại của chúng luôn tiềm ẩn sự nguy hiểm cho những người xung quanh như: phương tiện giao thông cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp, vũ khí, chất phóng xạ.
Những vật này mặc dù đã được chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng áp dụng mọi biện pháp cần thiết để kiểm soát vận hành an toàn, nhưng vẫn có những thiệt hại khách quan bất ngờ xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó. Khoa học pháp lý gọi đây là những: “Nguồn nguy hiểm cao độ“ Pháp luật dân sự các nước có quy định khác nhau về nguồn nguy hiểm cao độ. Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan tiếp cận khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ theo hướng xây dựng một khái niệm chung về những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Cụ thể Điều 437 Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: Nguồn nguy hiểm cao độ là bất cứ vật chất nào được kéo, đẩy bằng máy móc (.) những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng.
[8] 9 z Ngược lại với Thái Lan, Bộ luật dân sự Nhật Bản không xây dựng khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê những đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo đó “các nhà máy chế tạo, nơi khai thác khoáng sản dễ gây cháy nổ, độc hại, phương tiện giao thông, vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ” Được xây dựng trên nguyên tắc, trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh không cần điều kiện lỗi: “Một người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả hoặc không thận trọng của mình” (Điều 1383) nên Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp không đề cập đến nội dung nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ quy định “một người phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do (.) những vật mà mình coi giữ gây ra” (Điều 1384) Theo pháp luật Việt Nam, Khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.[29] Điều luật này không đưa ra khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Bao gồm: - Phương tiện giao thông vận tải cơ giới: hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới”, mà khái niệm này chỉ được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật như: Luật Giao thông đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thuỷ 2004, Luật Hàng không dân dụng 2006, Luật Đường sắt 2005, Bộ luật hàng hải 2005. Theo quy định tại các văn bản này thì phương tiện giao thông vận tải cơ giới là những phương tiện hoạt động trên đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không và đường biển “được trang bị hoặc hoạt động bằng máy móc” 10 z [64, tr.
Những phương tiện này có chung đặc điểm là được vận hành bằng động cơ, có khả năng gây nguy hiểm cao cho những người xung quanh, vì vậy, để được tham gia giao thông những phương tiện này phải đáp ứng được các yêu cầu về trình độ của người điều khiển (thông thường người điều khiển các phương tiện này phải có giấy phép. VD: giấy phép lái xe), về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng (phải được kiểm tra định kỳ về an toàn kỹ thuật). Những phương tiện này bao gồm: Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ: Theo Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự [35] Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường thuỷ, đường biển bao gồm: tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa, đường biển (Khoản 7 Điều 3 Luật Giao thông đường thuỷ 2004, Điều 11 Bộ luật Hàng hải 2005) Phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt: đầu máy, toa xe động lực, phương tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt. (Khoản 20, 22 Điều 3 Luật Đường sắt 2005) Phương tiện giao thông vận tải cơ giới hàng không: máy bay, trực thăng.
- Hệ thống tải điện: được hiểu là dây chuyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện, cầu dao.; - Nhà máy công nghiệp: như nhà máy công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ. 11 z Phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi nó “đang hoạt động”, điều đó có nghĩa là nếu nó đang ở trạng thái tĩnh thì không tạo nguy hiểm cho những người xung quanh. - Vũ khi: Theo Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ- ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP của Chính phủ ngày 12/8/1996, vũ khí bao gồm: Vũ khí quân dụng: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hoá chất độc và nguồn phóng xạ các loại đạn; bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thuỷ lôi, vật liệu nổ quân dụng, hoả cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng - an ninh. Vũ khí thể thao gồm: các loại súng trường, súng ngắn thể thao chuyên dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên.
Súng săn gồm: Các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, sung hoả mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên. Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc chất cứng, cung, nỏ, côn các loại và các loại khác do Bộ Nội vụ quy định. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại vũ khí trên đều mang tính chất là nguồn nguy hiểm cao độ. Bởi các loại vũ khí thô sơ là công cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt như dao găm, đinh ba.
thì không được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. - Chất nổ: là chất có khả năng gây nên một phản ứng hoá học nhanh, mạnh, toả nhiều nhiệt và ánh sáng, đồng thời sinh khí và kèm theo tiếng nổ, thường dùng làm mìn, đạn dược [64, tr. 197] 12 z - Chất cháy: “chất rất dễ bén lửa và gây cháy” [64, tr. 197] là những chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong không khí, nước hoặc dưới tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ cao hoặc không cao (diêm, phốt pho, xăng, dầu.) - Chất độc: là những chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho sức khoẻ, tính mạng của con người, động vật cũng như đối với môi trường xung quanh.
VD: các chất độc bảng A như Acônitin và các loại muối của nó, kẽm phốt pho, nicotin. - Chất phóng xạ: là “chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí có hoạt động phóng xạ riêng lớn hơn 70 kilo Beccơren trên kilogam (70KBO/KG). Chất phóng xạ là nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân gồm những đồng vị không bền của các nguyên tố hoá hoạc (urani, radi.) có khả năng phát ra những chùm tia phóng xạ không nhìn thấy gây bệnh hoặc gây nhiễm xạ đối với người, động vật và môi trường sống. (Khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ năm 1996) - Thú dữ: là động vật bậc cao, có lông mao, tuyến vú, nuôi con bằng sữa, lớn, rất dữ, có thể làm hại người.
VD: hổ, báo, sư tử, gấu. 1234] - Các nguồn nguy hiểm cao độ khác: đây là quy định mang tính chất dự phòng. Trong tương lai, có thể có những vật mà được pháp luật quy định là “nguồn nguy hiểm cao độ”. Việc Bộ luật dân sự 1995 cũng như 2005 không xây dựng được khái niệm mà chỉ liệt kê những vật được coi là “nguồn nguy hiểm cao độ” như hiện nay có một số điểm hạn chế như sau: (i) Khái niệm cụ thể của từng vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ được quy định rải rác trong nhiều văn bản khác nhau.
VD: chỉ riêng tìm hiểu khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới” là gì, thì phải tra cứu từ ít nhất 5 văn bản pháp luật: Luật Giao thông đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thuỷ 2004, Luật Hàng không dân dụng 2006, Luật Đường sắt 2005, Bộ luật hàng hải 2005. Tuy nhiên, trong 5 văn bản này cũng không đưa ra được 13 z khái niệm chung về “phương tiện giao thông vận tải cơ giới” mà cũng chỉ liệt kê được phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ, đường thủy, đường biển, đường sắt, đường hàng không gồm những phương tiện nào. Thậm chí, có những vật được Bộ luật dân sự liệt kê là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không thể tra cứu trong các văn bản pháp luật mà chỉ có thể tra trong Từ điển. VD: thú dữ, nhà máy công nghiệp, chất cháy… Cách quy định như vậy khiến cho việc tìm hiểu bản chất của những vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ gặp nhiều khó khăn, gây trở ngại cho công tác nghiên cứu cũng như áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trên thực tế.