Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA 1. Khái niệm thiệt hại, bồi thường thiệt hại, pháp nhân và người của pháp nhân 1. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra là loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1.
Ý nghĩa của việc quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra 1. Quá trình hình thành và phát triển của quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra ở Việt Nam 1. Pháp luật của một số nước về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA 2.
Thực trạng pháp luật 2. Thực tiễn giải quyết tại Toà án bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA 3. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về việc bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra 3.
Giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra 5 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGƢỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA 1. Khái niệm thiệt hại, bồi thƣờng thiệt hại, pháp nhân và ngƣời của pháp nhân 1. Khái niệm thiệt hại Đối với cá nhân, tổ chức, quốc gia hay quốc tế, khi nói đến thiệt hại, là nói đến sự mất mát “cái gì đó” và luôn mang tính tiêu cực. “Cái gì đó” ở đây có thể định tính, định lượng được hoặc có thể không.
Thiệt hại có thể do con người hoặc do tự nhiên gây nên. Có thiệt hại gắn với trách nhiệm pháp lý, cũng có thiệt không gắn với trách nhiệm pháp lý. Vậy thiệt hại là gì? Thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng về người và của” [27, tr. Theo quan điểm truyền thống, pháp luật dân sự luôn coi thiệt hại là những tổn thất có liên quan đến tài sản; tuy nhiên, theo những quan điểm hiện nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là “tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [35, tr. Hay “Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ. Theo Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan thì không nêu định nghĩa thế nào là thiệt hại mà cho rằng đó là hậu quả của hành vi sai trái “tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác” và “tổn thương đến uy tín hoặc lòng tin, hoặc thu nhập hay sự thịnh vượng của người khác” (Điều 420 và 423) [8]. Bộ luật dân sự Trung Quốc lại quy định về thiệt hại trái pháp luật chứ không quy định thiệt hại một cách chung chung, đó là các điều từ 184 đến 198: trong đó 6 z có các loại thiệt hại trái pháp luật về tính mạng (Điều 192), về thân thể, sức khoẻ, danh dự, tự do, uy tín, sự riêng tư hoặc sự trong trắng hoặc đối với nhân phẩm của người khác một cách nghiêm trọng (Điều 195), và về tài sản (Điều 196) [9].
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định tại Điều 310: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” [2]. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 307: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” [1]. Quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại về tinh thần bao gồm “tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân” và thiệt hại về vật chất bao gồm “tài sản bị mất, huỷ hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được”. Tóm lại, thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài.
Như vậy, nhìn từ góc độ nào (khoa học pháp lý hay quy định của pháp luật) thì thiệt hại cũng thường gồm, a) Thiệt hại về vật chất Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản (tài sản bị mất, bị huỷ hoại, bị hư hỏng) và chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra phải thu được. Về pháp lý, thiệt hại về vật chất vừa động chạm đến tài sản hữu hình – thiệt hại trực tiếp (là vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể) như vật có thực, tiền và các giấy tờ có giá trị bằng tiền như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, chứng từ tiền gửi, phương tiện thanh toán và quyền, nghĩa vụ tài sản và tài sản vô hình (đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ); đồng thời vừa xâm hại các lợi ích khác – thiệt hại gián tiếp (lợi tức, hoa lợi tính được thành 7 z tiền). Thiệt hại về vật chất bao hàm nhiều vấn đề, và hầu như vấn đề về tài sản là vấn đề được quan tâm nhiều nhất. Tài sản được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, như thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, nhà ở.
Giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản thực tế là giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể gây thiệt hại với người bị thiệt hại, giữa người có nghĩa vụ khắc phục hậu quả xảy ra đối với người có quyền yêu cầu bồi thường theo quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó để ổn định và lập lại trật tự quan đã bị phá vỡ. Việc giải quyết đó không chỉ căn cứ duy nhất vào đặc điểm của tài sản, mà còn phải dựa vào các dấu hiệu khác nhằm làm rõ mối quan hệ giữa người bị thiệt hại với tài sản của họ (là đối tượng bị hành vi gây thiệt hại tác động vào), đó là dấu hiệu về quyền đối với tài sản thông qua quyền sở hữu. Theo quan niệm phổ thông, người có quyền sở hữu là người có được một tài sản là của riêng mình và toàn quyền định đoạt tài sản đó. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Quyền sở hữu tài sản là quyền được pháp luật bảo vệ nhưng trong thực tế, chủ sở hữu không phải là người duy nhất có quyền đối với tài sản của mình. Trong trường hợp tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác hoặc do pháp luật quy định thì ngoài chủ sở hữu ra, người có tài sản do được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, do thông qua giao dịch dân sự cũng có quyền đối với tài sản (như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng). Vì vậy, khi thiệt hại xảy ra, người bị xâm hại là người đang chiếm hữu hoặc đang sử dụng tài sản đó.
b) Thiệt hại về tinh thần Trong cuộc sống, sự tồn tại của yếu tố tinh thần nhằm toát lên “toàn bộ hoạt động nội tâm của con người nói chung (như ý nghĩ, tình cảm. Hoạt động này chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người, làm nên giá trị tinh thần qua phạm trù danh dự, uy tín, nhân cách, phẩm giá của một con người hoặc danh dự, uy tín của một tổ chức. Đời sống nội tâm là một trong hai mặt không thể thiếu cho sự tồn tại của mỗi cá nhân. Trong hoạt động xã hội, sự tồn tại của mặt thứ hai này trong cuộc sống con người cũng luôn bị đe dọa bởi khả năng gây thiệt hại khi tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm của con người bị xâm phạm.
Việc xem xét một thiệt hại về tinh thần với tính chất của sự tổn thất đối với đối tượng phi vật thể, bao gồm thiệt hại thuần tuý tinh thần và thiệt hại tinh thần có nguồn gốc từ thiệt hại vật chất, do tính mạng, sức khoẻ bị xâm hại. Tính hiện thực và xã hội của thiệt hại tinh thần là ở chỗ, nó xâm phạm đến phần quan trọng trong việc học tập, duy trì và phát triển các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, đó là danh dự, uy tín, phẩm giá của con người. Thiệt hại về tinh thần trong quan niệm pháp lý của luật Châu Âu và luật Anh - Mỹ là loại thiệt hại không được biểu đạt bằng việc mất tài sản, hay vật hoặc các quyền định giá được bằng tiền. Khác với thiệt hại về vật chất mà việc xác định thiệt hại không phải là khó khăn đặc biệt, thiệt hại về tinh thần là thiệt hại đối với cuộc sống tâm linh của con người mà theo học thuyết pháp lý của Pháp gọi là thiệt hại đối với “thành phần tình cảm, tình thương yêu của sản nghiệp tinh thần”.
Vì thế, thiệt hại về tinh thần không có tiêu chí chung cho mọi cá nhân. Hình thức thể hiện của thiệt hại về tinh thần đương đối đa dạng, có thể là đau đớn do thương tích, đau khổ về tinh thần do mất người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con.) hoặc là nỗi khổ tâm khi không thể tham gia vào hoạt động xã hội hay không thể hoà nhập được vào đời sống cộng đồng nữa (như bị mù, bị liệt. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thiệt hại về tinh thần là những tổn thất, mất mát trong tình cảm, sự hụt hẫng hoặc sụp đổ về tinh thần, tâm lý 9 z của con người do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín cá nhân, danh dự - uy tín của tổ chức bị xâm phạm hoặc do người thân thích, gần gũi nhất của mình bị thiệt hại.