CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân 1.1 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân Quyền nhân thân là một trong những nội dung của quyền dân sự và quyền dân sự là nội hàm thuộc khái niệm quyền con người. Quyền con người là một giá trị vĩ đại của nhân loại được nhiều nhà tư tưởng của mọi thời đại quan tâm. Theo các học giả, vấn đề quyền con người được các nhà tư tưởng quan niệm theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng có thể diễn đạt tựu trung bởi hai quan niệm 2. Quan niệm thứ nhất cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên, các quyền này không bị phá hủy, không bị tước bỏ khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ những quyền này, bao gồm các quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền được tự do và quyền có tài sản.
Quan niệm thứ hai cho rằng quyền con người cũng như con người – là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, theo đó, quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời cũng là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau. Mặc dù có sự khác biệt nhau về khái niệm quyền con người của những nhà tư tưởng thuộc các trường phái khác nhau nhưng họ đều thống nhất rằng: quyền con người trước hết là quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho. Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới trong Lời Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đã nói: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
2 Đào Trí Úc, Hành trình của quyền con người, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2009, tr. 5 Lời bất hủ ấy trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Vấn đề quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 (UDHR) của Liên Hiệp Quốc và sau đó các nội dung về quyền con người trong Tuyên ngôn 1948 được cụ thể hóa bằng hai Công ước quốc tế là “Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” (ICCPR) và “Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (ICCSCR), được thông qua ngày 16/12/1966. Nội dung hai Công ước này đã ghi nhận và cụ thể hóa quyền con người, tích cực bảo vệ quyền con người, trở thành chuẩn mực chung của các quốc gia trong việc định chế về quyền con người trong pháp luật của mỗi quốc gia. Khái niệm “quyền” được hiểu theo góc độ pháp lý, “đó có thể được hiểu là điều mà pháp luật công nhận cho người có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi” 3.
Con người với tích cách là một sinh vật – tự nhiên – xã hội, có những yêu cầu, đòi hỏi về điều kiện sống, được tự do, được hạnh phúc, được bảo đảm tôn trọng danh dự, nhân phẩm… Quyền của con người là những quyền hành xử của con người để mang đến cho mình những giá trị của cuộc sống. Căn cứ vào nội dung, tính chất đối tượng của quyền con người, khoa học pháp lý chia quyền con người thành các nhóm quyền: nhóm các quyền về tự do, dân chủ của con người; nhóm các quyền chính trị; nhóm các quyền trong lĩnh vực kinh tế; nhóm các quyền trong quan hệ xã hội; nhóm các quyền dân sự… Quyền dân sự là nhóm các quyền của con người trong lĩnh vực dân sự. Quyền của con người trong lĩnh vực dân sự rất đa dạng và tập trung thành hai nhóm: nhóm các quyền tài sản (quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế tài sản, quyền tham gia vào quan hệ hợp đồng có đối tượng là tài sản hoặc quyền về tài sản) và nhóm các quyền về nhân 3 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học BLDS 2005, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2008, tr. Quyền nhân thân bao gồm các quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không có yếu tố tài sản.
Quyền nhân thân gắn với tài sản là các quyền nhân thân mà từ đó làm phát sinh các quyền về tài sản, ví dụ quyền được hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoặc các quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp… Quyền nhân thân không có yếu tố tài sản là các quyền được tạo nên bởi các quyền tuyệt đối của cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân, không được chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, và đặc biệt là không thể xác định giá trị bằng tiền hoặc bằng các giá trị vật chất. Đó là các quyền của cá nhân đối với họ tên, hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; quyền xác định lại giới tính… Như vậy, các quyền nhân thân của cá nhân là một trong các thành phần để cấu thành nội dung quyền dân sự. Nếu dùng mô hình toán học để diễn tả khái niệm và mối quan hệ giữa quyền con người, quyền dân sự, và quyền nhân thân thì chúng ta có thể vẽ các quyền này dưới dạng ba vòng tròn đồng tâm, mà vòng tròn có bán kính lớn nhất là vòng tròn về quyền con người, tiếp theo là vòng tròn quyền dân sự, và trong cùng là vòng tròn biểu thị cho quyền nhân thân. Từ nội dung phân tích trên, có thể nêu khái niệm về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự, không thể tính ra được bằng tiền hoặc các giá trị vật chất, không tách rời cá nhân và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Trong quan hệ dân sự, cùng với quan hệ tài sản thì quan hệ nhân thân là một trong hai đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật dân sự và là một loại quan hệ mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, phản ánh sự phát triển của xã hội, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với công dân. Thông qua các quy định của Nhà nước về quyền nhân thân cũng như phương thức để bảo vệ nó sẽ thể hiện mức độ dân chủ trong xã hội cũng như mức độ đề cao quyền công dân, quyền con người trong xã hội. Các quyền nhân thân của mỗi cá nhân được pháp luật dân sự quy định có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là cơ sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhân tồn tại với tư cách là một chủ thể độc lập trong 7 cộng đồng, được thụ hưởng các lợi ích tinh thần để từ đó tạo ra các giá trị nhân thân cho bản thân. Phạm vi các quyền nhân thân mà cá nhân được hưởng được căn cứ vào văn hóa, phong tục tập quán cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn nhất định, vì vậy pháp luật của từng quốc gia ghi nhận phạm vi và nội dung quyền nhân thân có sự khác biệt nhau.
Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: “Ở nước CHXHCN Việt Nam các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật”. Việc cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp thành các quyền cụ thể trên các lĩnh vực là nhiệm vụ của nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi ngành luật xuất phát từ tính đặc trưng của đối tượng và phương pháp điều chỉnh để quy định. Vì vậy, vấn đề đặt ra và được thảo luận nhiều trong suốt quá trình xây dựng BLDS là từ quy định của Hiến pháp, phải biết lọc ra những quyền nhân thân nào là quyền dân sự để ghi nhận và cụ thể hóa trong BLDS.
BLDS 1995 ra đời đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Lần đầu tiên các quy định về quyền nhân thân và quan hệ nhân thân được pháp luật quy định trong một văn bản pháp luật chuyên ngành. BLDS 1995 đã dành hẳn một chương (Chương II) để quy định về cá nhân và dành hẳn một mục (Mục 2) bao gồm 27 điều luật (từ Điều 26 đến Điều 47) để quy định về quyền nhân thân của cá nhân. Ngoài ra, các quyền nhân thân còn được quy định ở một số phần khác trong nội dung BLDS như quyền nhân thân của tác giả trong quyền sở hữu công nghiệp (Phần thứ năm của BLDS)… Tuy nhiên để cho ra đời được BLDS 1995 các nhà lập pháp đã phải trải qua một thời gian nghiên cứu rất dài với nhiều dự thảo và vấn đề về quyền nhân thân cũng được các nhà lập pháp rất chú trọng.
Tại Dự thảo lần thứ XII BLDS 1995 được công bố để nhân dân đóng góp ý kiến, vấn đề quyền nhân thân được quy định tại Phần thứ nhất, Chương II, Mục 3 với tiêu đề “Họ tên và hình ảnh” gồm 3 điều: quyền của cá nhân đối với họ tên của mình; quyền thay đổi họ tên; quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình (Điều 25, 26, 27 Dự thảo XII); và một số quyền nhân thân khác như quyền của cá nhân được bảo vệ tính mạng, sức khỏe (Điều 534, 535); bảo vệ danh dự, nhân phẩm (Điều 536); quyền nhân thân của tác giả trong quyền sở hữu công nghiệp 8 (Phần thứ năm). Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo XII còn mang nặng về điều chỉnh quan hệ tài sản, xem nhẹ quan hệ nhân thân, đặc biệt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều đề xuất, nhiều kiến nghị quý báu về quan hệ nhân thân và quyền nhân thân trong nội dung BLDS.