Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Nguyên tắc tối thượng của pháp luật đặt Nhà nước và công dân vào vị trí bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý. Mặc dù nắm giữ quyền lực công để quản lý xã hội, Nhà nước vẫn phải chịu sự ràng buộc của pháp luật; mọi hành vi hay quyết định trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức đều làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước.
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một cơ chế pháp lý phức tạp, nằm ở vị trí giao thoa giữa luật công (pháp luật hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước) và luật tư (các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự). Cơ chế này có sự tham gia của ba chủ thể: người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, người bị thiệt hại và Nhà nước với tư cách là chủ thể đảm nhận trách nhiệm bồi thường thay thế. Trên phương diện chính trị, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thể hiện bản chất dân chủ, củng cố niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền và nâng cao trách nhiệm kỷ cương trong hoạt động công vụ. Trên phương diện pháp lý, cơ chế này hiện thực hóa quyền hiến định của người dân được bồi hoàn tổn thất vật chất, phục hồi danh dự, đồng thời duy trì sự ổn định của hoạt động công vụ nhờ khả năng bảo đảm tài chính vững chắc từ ngân khố quốc gia.
Tuy nhiên, trong quan hệ bồi thường, bên bị thiệt hại luôn ở vị thế yếu hơn so với cơ quan nhà nước. Việc giải quyết bồi thường thường chịu áp lực do xung đột lợi ích kinh tế và uy tín chính trị của chính cơ quan và công chức vi phạm, dẫn đến nguy cơ làm giảm tính khả thi của pháp luật. Mặt khác, phạm vi bồi thường nếu quá hẹp sẽ không bảo đảm quyền lợi của người dân, nhưng nếu mở rộng quá mức sẽ tạo sức ép lớn lên ngân sách nhà nước. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: trước thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đặt trong bối cảnh cụ thể của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt dưới ánh sáng của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; phân tích các bất cập của pháp luật hiện hành trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiết lập cơ chế pháp lý thuận lợi và khả thi nhằm bảo vệ quyền yêu cầu bồi thường của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và thực hiện bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Một là, khái quát những công trình khoa học tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, chỉ rõ những vấn đề đã được giải quyết và những nội dung mà luận án cần tiếp tục giải quyết.
- Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, cơ sở phát sinh, phạm vi trách nhiệm và cơ chế giải quyết bồi thường nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
- Ba là, so sánh các nội dung cơ bản về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành tại Việt Nam; chỉ rõ các hạn chế, bất cập so với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Bốn là, xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiết lập cơ chế phù hợp nhằm bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong điều kiện thi hành Hiến pháp năm 2013.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tập trung vào phạm vi, điều kiện phát sinh và trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
- Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn pháp lý tại Việt Nam, đồng thời mở rộng nghiên cứu so sánh có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia như Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Thụy Sỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Philippines và Indonesia.
- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam qua các thời kỳ lập hiến (từ Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 đến Hiến pháp năm 2013), giai đoạn trước và sau khi ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 cho đến thời điểm hoàn thành công trình vào năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Tác giả đã phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo các nhóm nội dung cụ thể:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
- Carol Harlow (1982) với chuyên khảo Compensation and Government Torts (Nhà xuất bản Sweet & Maxwell, London): Tác giả phân tích tính tất yếu của việc xác lập trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tương tự như thể nhân và pháp nhân; phê phán học thuyết thời trung cổ "Nhà vua không bao giờ sai" (The King can do no wrong) và nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm của Hoàng gia tại Anh; phân tích nội dung Đạo luật tranh tụng Hoàng gia năm 1947 (Crown Proceedings Act 1947) cùng sự dịch chuyển từ trách nhiệm cá nhân của công chức theo quan điểm của Dicey sang nguyên tắc trách nhiệm liên đới của Nhà nước.
- Nhóm học giả Trung Quốc: Mã Hoại Đức chủ biên (2005) với Nghiên cứu một số vấn đề về Luật Bồi thường nhà nước; Cao Gia Vĩ (2004) với Luật Bồi thường nhà nước; Trang Công Thắng và Lưu Chí Tân (2005) với Bồi thường nhà nước và giám định tổn thất tinh thần. Các tác giả này tập trung phân tích đạo luật năm 1994 của Trung Quốc, khẳng định xu hướng mở rộng trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực hành chính là thước đo dân chủ, đồng thời đề xuất tiêu chuẩn định mức bồi thường tổn thất tinh thần.
- Các bài tham luận của chuyên gia quốc tế tại Hội thảo năm 2007 do Văn phòng Quốc hội phối hợp tổ chức: Taro Morinaga phân tích Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản năm 1946 gồm 6 điều, nêu bật sự giao thoa luật công - luật tư và thẩm quyền đại diện của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Arnel Cezar (Philippines); Alfredo Santos (Thụy Sỹ); Christian A. Brendel (Đức); Inosentius Samsul (Indonesia). Bên cạnh đó, văn bản dẫn chiếu Luật khiếu kiện bồi thường thiệt hại của Liên bang Hoa Kỳ năm 1946 (Federal Tort Claims Act - FTCA) tại Điều 2672 để minh chứng sự bãi bỏ nguyên tắc miễn trừ tuyệt đối của Nhà nước liên bang.
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Giai đoạn chuẩn bị xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009: Phạm Hồng Thái (2008) tiếp cận bồi thường nhà nước từ bản chất quan hệ công vụ, phân biệt lỗi công vụ và lỗi cá nhân; Trịnh Đức Thảo (2008) phân tích hai lý thuyết trách nhiệm trực tiếp và trách nhiệm thay thế, phân biệt bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất; chuyên đề Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2008) với các bài viết của Dương Đăng Huệ, Trần Thế Quân, Nguyễn Văn Tuân, Đinh Văn Thanh, Hoàng Ngọc Cẩn, Mai Anh Thông, Dương Văn Hậu; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Nguyễn Minh Tuấn (2008) tại Đại học Luật Hà Nội tiếp cận trách nhiệm của Nhà nước dưới giác độ trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
- Giai đoạn tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009: Sách chuyên khảo của Đinh Trung Tụng chủ biên (2009); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Nguyễn Thanh Tịnh chủ nhiệm (2012) về các biện pháp bảo đảm thi hành luật; Sách chuyên khảo của Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên (2012); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đỗ Kiên (2014) về thực hiện pháp luật bồi thường do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra.
- Các công trình nghiên cứu trong mối liên hệ với Nhà nước pháp quyền: Nguyễn Như Phát (2007) làm rõ nền tảng lý luận giữa bồi thường nhà nước với dân chủ và pháp quyền; Nguyễn Đăng Dung (2007) nghiên cứu trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực lập pháp; Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nhà nước và Pháp luật (2009) làm rõ cơ sở chính trị - pháp lý và kinh tế - xã hội của chế định bồi thường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu / Năm |
Trọng tâm nội dung đã giải quyết |
| Lý luận và án lệ thông luật |
Carol Harlow (1982) |
Phê phán thuyết miễn trừ quốc gia, phân tích Đạo luật tranh tụng Hoàng gia Anh 1947, trách nhiệm liên đới của Nhà nước |
| Pháp luật bồi thường các nước |
Mã Hoại Đức (2005), Taro Morinaga (2007) |
Khung pháp luật bồi thường Trung Quốc 1994, Nhật Bản 1946; bồi thường tổn thất tinh thần; cơ chế đại diện nhà nước |
| Chế định bồi thường tại Việt Nam |
Trịnh Đức Thảo (2008), Nguyễn Minh Tuấn (2008), Đinh Trung Tụng (2009) |
Phân định trách nhiệm trực tiếp - thay thế; bản chất dân sự và hành chính; đánh giá các quy định trước và sau Luật năm 2009 |
| Thực thi và Nhà nước pháp quyền |
Viện Nhà nước và Pháp luật (2009), Nguyễn Thanh Tịnh (2012), Nguyễn Đỗ Kiên (2014) |
Cơ sở chính trị - pháp lý; các biện pháp bảo đảm thi hành Luật năm 2009; trách nhiệm bồi thường của công chức hành chính |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình nêu trên đã giải quyết nhiều khía cạnh cụ thể, luận án chỉ rõ các công trình trong nước chủ yếu ra đời dưới thời kỳ hiệu lực của Hiến pháp năm 1992, chưa kịp thời phản ánh những tư tưởng lập hiến mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền công dân. Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây chưa luận giải thấu đáo mối quan hệ bản chất giữa mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các yếu tố phát sinh trách nhiệm bồi thường, chưa giải quyết mâu thuẫn giữa tính chất đặc thù của công quyền với yêu cầu bình đẳng của luật tư, và chưa đưa ra được giải pháp tháo gỡ quy định bất cập về nghĩa vụ chứng minh hành vi trái pháp luật đang đè nặng lên người bị thiệt hại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hệ thống các lý thuyết và khái niệm nền tảng của khoa học pháp lý:
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền: Dựa trên 5 đặc trưng cơ bản gồm: tính hợp pháp của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo Hiến pháp; tính tối thượng của pháp luật (không chủ thể nào đứng trên pháp luật); nguyên tắc phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm chống lạm quyền; sự tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; tính đầy đủ, công khai, minh bạch và dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.
- Bản chất pháp lý giao thoa: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt mang tính hỗn hợp giữa pháp luật công và pháp luật tư. Quan hệ công vụ phát sinh hành vi trái pháp luật là quan hệ hành chính, nhưng quan hệ bồi thường khắc phục hậu quả vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại lại mang bản chất của quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự, nơi các bên bình đẳng trước pháp luật.
- Lý thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious Liability) kết hợp trách nhiệm hoàn trả: Luận án lựa chọn và chứng minh tính hợp lý của lý thuyết trách nhiệm thay thế. Theo đó, Nhà nước đứng ra gánh vác trách nhiệm tài chính bồi thường cho cá nhân, tổ chức thay cho người thi hành công vụ nhằm bảo đảm sự an tâm, ổn định của hoạt động công vụ và năng lực thanh toán cho nạn nhân. Đồng thời, cơ chế hoàn trả buộc công chức có lỗi phải hoàn trả ngân sách một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường nhằm duy trì kỷ luật, hạn chế sự lạm dụng quyền lực.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, thực hiện theo định hướng nghiên cứu định tính thuần túy trong khoa học pháp lý. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và giải thích quy phạm pháp luật: Sử dụng để mổ xẻ các điều luật, xác định các yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường, điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, các loại thiệt hại được bồi thường và trình tự thủ tục giải quyết theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 cùng các đạo luật liên quan.
- Phương pháp lịch sử - pháp lý: Phân tích sự tiến triển của chế định bồi thường qua các thời kỳ lập hiến tại Việt Nam (Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013), các quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, 2015, Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 và Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định pháp luật bồi thường nhà nước của Việt Nam với các mô hình pháp luật trên thế giới (mô hình thông luật của Anh, Hoa Kỳ; mô hình dân luật của Pháp, Đức, Thụy Sỹ; mô hình của Nhật Bản và Trung Quốc) nhằm tìm kiếm các kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích hệ thống: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, phát hiện các mâu thuẫn nội tại trong hệ thống quy định và kiến giải các giải pháp lập pháp khả thi.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu của luận án là dữ liệu văn bản pháp lý và tư liệu học thuật, bao gồm:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam: Các bản Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
- Văn bản lập pháp và án lệ quốc tế: Đạo luật tranh tụng Hoàng gia Anh năm 1947, Luật khiếu kiện bồi thường Liên bang Hoa Kỳ năm 1946, Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản năm 1946, Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc năm 1994.
- Báo cáo tổng kết thực tiễn, số liệu hành chính và kỷ yếu hội thảo chuyên đề của Văn phòng Quốc hội, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, phân loại thành ba luồng nghiên cứu chính: các công trình nước ngoài về sự chuyển biến từ miễn trừ trách nhiệm công quyền sang trách nhiệm bồi thường; các công trình nghiên cứu trong nước về nội dung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; và các nghiên cứu đặt chế định này trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận khoa học cũng như những hạn chế của các công trình trước đây khi chưa gắn chặt với Hiến pháp năm 2013. Từ đó, chương xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, mục tiêu, đối tượng, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai trong toàn bộ luận án.
Chương 2: Lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý luận cốt lõi. Tác giả phân tích khái niệm và chỉ ra các đặc điểm đặc thù của quan hệ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:
- Luôn tồn tại yếu tố "công vụ" (hành vi nhân danh quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận);
- Nhà nước luôn là một bên chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thông qua cơ quan đại diện;
- Khách thể được bảo vệ là quyền tài sản và nhân thân phi tài sản được pháp luật thừa nhận;
- Bản chất là trách nhiệm thay thế kết hợp cơ chế hoàn trả của người thi hành công vụ.
Tác giả phân tích sâu sắc mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước pháp quyền và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dựa trên 5 đặc trưng của Nhà nước pháp quyền; khẳng định chế định này là công cụ kiểm soát quyền lực, bảo đảm sự thượng tôn pháp luật và là thước đo thực thi dân chủ. Ngoài ra, chương nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của các nước (Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc...), từ đó rút ra các bài học về việc bãi bỏ quy chế miễn trừ, áp dụng nguyên tắc luật tư để bảo vệ nạn nhân và xác định cơ chế đại diện nhà nước thống nhất.
Chương 3: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam
Chương 3 tái hiện toàn diện tiến trình phát triển lịch sử của chế định bồi thường nhà nước tại Việt Nam: từ việc ghi nhận quyền yêu cầu bồi thường mang tính nguyên tắc tại Điều 29 Hiến pháp 1959, Điều 73 Hiến pháp 1980; đến các quy định tại Điều 72, 74 Hiến pháp 1992; sự thể chế hóa trong Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 623, 624) và Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 619, 620); cùng các văn bản chuyên ngành như Nghị định 47/CP và Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11.
Tiếp đó, chương phân tích các nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009: phạm vi điều chỉnh trong ba lĩnh vực (quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án); căn cứ làm phát sinh trách nhiệm (có thiệt hại thực tế, có hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ, có quan hệ nhân quả, không yêu cầu chứng minh lỗi cá nhân); phạm vi các thiệt hại được bồi hoàn; và cơ chế giải quyết bồi thường. Đánh giá thực tiễn thi hành, tác giả chỉ ra các điểm nghẽn nghiêm trọng:
- Mô hình cơ quan giải quyết bồi thường phân tán khiến người bị thiệt hại khó xác định đúng cơ quan có trách nhiệm;
- Điều kiện bắt buộc phải có "văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật" trước khi thụ lý yêu cầu bồi thường đã chuyển toàn bộ nghĩa vụ chứng minh lỗi sang người bị thiệt hại, gây trở ngại cho việc tiếp cận công lý;
- Thiệt hại được bồi thường còn hạn hẹp, chưa bao gồm các chi phí hợp lý như chi phí khiếu nại, tố cáo, thuê luật sư, kêu oan hoặc bù đắp thỏa đáng cho người thăm nuôi;
- Trách nhiệm hoàn trả của công chức thực thi chưa nghiêm, thiếu các chế tài cụ thể.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 đưa ra hệ quan điểm chỉ đạo nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: quán triệt sâu sắc các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và cân bằng hài hòa giữa lợi ích công và quyền lợi của công dân.
Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, chương đề xuất các nhóm giải pháp mang tính chiến lược và cụ thể:
- Hoàn thiện thể chế: Sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 theo hướng bãi bỏ quy định yêu cầu phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật làm điều kiện thụ lý đơn yêu cầu; chuyển nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của hành vi công vụ sang cơ quan nhà nước; mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường và các loại thiệt hại được bồi thường;
- Cải cách mô hình tổ chức và thủ tục: Khắc phục tính phân tán của các cơ quan giải quyết bồi thường, tăng cường vai trò chuyên trách của cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường; đơn giản hóa thủ tục giải quyết nội bộ và mở rộng quyền của người bị thiệt hại được khởi kiện trực tiếp ra Tòa án;
- Bảo đảm nguồn lực thi hành: Đổi mới cơ chế cấp phát kinh phí chi trả bồi thường từ ngân sách nhà nước bảo đảm nhanh chóng, kịp thời; xây dựng quy chế hoàn trả minh bạch, gắn trách nhiệm vật chất cụ thể với mức độ lỗi của người thi hành công vụ nhằm tăng cường kỷ cương hành chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã xây dựng một cách có hệ thống cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ rõ trách nhiệm bồi thường không chỉ là chế định pháp luật thuần túy mà là một thuộc tính bản chất, một thước đo bảo đảm quyền con người và thực thi nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
- Luận án làm sáng tỏ bản chất pháp lý đặc thù của quan hệ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: là sự giao thoa mật thiết giữa luật công (điều chỉnh tính bất hợp pháp của hành vi công vụ) và luật tư (tiêu chuẩn bồi thường thiệt hại và sự bình đẳng giữa các chủ thể).
- Luận giải sâu sắc tính hợp lý của lý thuyết trách nhiệm thay thế kết hợp trách nhiệm hoàn trả so với lý thuyết trách nhiệm trực tiếp, chứng minh rằng Nhà nước đảm nhận trách nhiệm bồi thường thay thế là giải pháp tối ưu bảo đảm quyền lợi tài chính cho nạn nhân và giữ vững sự ổn định của nền công vụ.
- Xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mang yếu tố hành chính đặc thù: hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mặc nhiên được coi là có lỗi, do đó yếu tố lỗi cá nhân không phải là điều kiện cấu thành bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người bị thiệt hại.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án đã đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng quy định và thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; định danh chính xác các rào cản pháp lý làm hạn chế quyền yêu cầu bồi thường của người dân, đặc biệt là quy định bắt buộc phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật trước khi thụ lý hồ sơ.
- Phân tích rõ các bất cập trong mô hình cơ quan giải quyết bồi thường phân tán hiện nay, sự thiếu thống nhất giữa các lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án, cùng sự thiếu hụt các quy định bồi thường tổn thất vô hình và chi phí thực tế phát sinh trong quá trình yêu cầu công lý.
- Đề xuất hệ thống quan điểm toàn diện và các nhóm giải pháp lập pháp trực tiếp phục vụ cho quá trình sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, tạo cơ sở khoa học cho việc thể chế hóa tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào hoạt động bồi thường theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (chủ yếu trong ba lĩnh vực: quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án). Do tính chất đặc thù về chính trị - pháp lý và hoạt động xây dựng chính sách của cơ quan đại diện quyền lực nhân dân, luận án chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp. Ngoài ra, việc phân tích thực trạng chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật và báo cáo tổng kết giai đoạn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực lập pháp tại Việt Nam.
- Nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp xác định, định lượng và tiêu chuẩn giám định đối với các tổn thất về tinh thần trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Theo dõi, đánh giá tác động thực tiễn sau khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và áp dụng trong thực tế đời sống pháp lý.
Giá trị tham khảo
Đối tượng sử dụng
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Dân sự và Tố tụng tư pháp.
- Cơ quan xây dựng pháp luật: Là nguồn luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tư pháp và Ban soạn thảo trong quá trình xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Cơ quan giải quyết bồi thường và cơ quan tư pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án và cơ quan hành chính các cấp nhằm áp dụng đúng đắn các chuẩn mực bồi thường, hạn chế đùn đẩy trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người dân.
Nội dung đáng tham khảo
Nội dung phân tích tại Chương 2 về mối quan hệ giữa các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cùng kinh nghiệm so sánh pháp luật của các quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản mang giá trị học thuật cao. Tại Chương 3 và Chương 4, các luận điểm phê phán mô hình giải quyết bồi thường phân tán và đề xuất bãi bỏ văn bản xác định hành vi trái pháp luật là những đóng góp có giá trị thực tiễn nổi bật.
Câu hỏi thường gặp
1. Bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt, có sự giao thoa giữa pháp luật công (luật hành chính) và pháp luật tư (luật dân sự). Trách nhiệm này bắt nguồn từ quan hệ công quyền khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật, nhưng quan hệ bồi thường khắc phục thiệt hại lại tuân thủ các nguyên tắc bình đẳng của pháp luật dân sự ngoài hợp đồng.
2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo Luật năm 2009 có điểm gì đặc thù so với luật dân sự?
Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, điều kiện phát sinh trách nhiệm gồm ba yếu tố: (1) có thiệt hại xảy ra; (2) có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Điểm đặc thù là không quy định yếu tố lỗi của người thi hành công vụ là điều kiện bắt buộc để Nhà nước bồi thường; trong quan hệ hành chính, hành vi trái pháp luật của công chức mặc nhiên được suy đoán là có lỗi.
3. Vì sao luận án ủng hộ áp dụng lý thuyết trách nhiệm thay thế thay vì lý thuyết trách nhiệm trực tiếp?
Nếu tiếp cận theo lý thuyết trách nhiệm trực tiếp, Nhà nước phải chịu trách nhiệm tuyệt đối trong mọi trường hợp và có thể dẫn đến miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm hoàn trả của công chức, gây sức ép quá lớn lên ngân sách và làm giảm tính kỷ cương công vụ. Ngược lại, lý thuyết trách nhiệm thay thế cho phép Nhà nước bồi thường thay cho công chức để bảo đảm nguồn tài chính vững chắc cho người bị thiệt hại, đồng thời vẫn áp dụng cơ chế hoàn trả buộc công chức có lỗi phải gánh chịu hậu quả vật chất nhằm ngăn chặn lạm dụng quyền lực.
4. Rào cản lớn nhất đối với người bị thiệt hại trong Luật năm 2009 được tác giả chỉ ra là gì?
Rào cản lớn nhất là quy định người bị thiệt hại chỉ có quyền yêu cầu bồi thường khi đã có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật. Quy định này đặt toàn bộ nghĩa vụ chứng minh vi phạm lên vai người bị thiệt hại - vốn là bên yếu thế, tạo điều kiện cho cơ quan vi phạm trì hoãn ban hành văn bản xác định sai phạm để né tránh việc bồi thường.
5. Kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản về bồi thường nhà nước có những điểm gì đáng chú ý?
Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản năm 1946 gồm 6 điều, kết hợp hài hòa giữa luật công và luật tư. Luật quy định Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người đại diện Chính phủ chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của Nhà nước; phạm vi bồi thường bao quát các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời dẫn chiếu trực tiếp việc áp dụng các quy chuẩn của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự để giải quyết yêu cầu bồi thường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Tịnh là một công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn chuyên sâu, có hệ thống về chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Công trình đã luận chứng thuyết phục tính tất yếu khách quan của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như một đòi hỏi cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời vạch rõ các rào cản lập pháp hiện hành cản trở việc thực thi quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Các hệ quan điểm và giải pháp sửa đổi luật toàn diện do luận án đề xuất mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ quan trọng cho quá trình hoàn thiện thể chế bồi thường nhà nước tại Việt Nam.