MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản phẩm sản xuất trong nƣớc mà còn giao dịch quan hệ với nƣớc khác. Do khác nhau về điều kiện tự nhiên nhƣ tài nguyên, khí hậu, … nên nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nƣớc không thể cung cấp đủ những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế, mà phải nhập những mặt hàng cần thiết nhƣ nguyên liệu, vật tƣ, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nƣớc không sản xuất đƣợc, hoặc sản xuất đƣợc nhƣng giá cả cao hơn. Ngƣợc lại, trên cơ sở khai thác những tiềm năng và lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nƣớc, còn có thể tạo nên hàng hóa thặng dƣ có thể xuất khẩu sang nƣớc khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nƣớc để nhập khẩu các thứ còn thiếu và để trả nợ.
Nhƣ vậy , do yêu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nƣớc với nhau, hay nói cách khác, hoạt động xuất nhập khẩu là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế. Và một khi hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động cần thiết, không thể thiếu đối với các nƣớc thì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu mà trong đó các ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò chủ chốt cũng là một hoạt động không thể thiếu trong việc hỗ trợ, củng cố xuất nhập khẩu nhất là khi hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện cần thiết để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Trong những năm gần đây, lĩnh vực xuất nhập khẩu đƣợc nhà nƣớc khá quan tâm, và vai trò của hệ thống ngân hàng luôn đƣợc nhấn mạnh. Có thể kể đến nhƣ các chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu gạo, tiêu, điều, cà phê, thủy hải sản vốn là thế mạnh của nƣớc ta.
Ngoài ra, các ngân hàng thƣơng mại cũng có nhiều chƣơng trình, chính sách hơn dành cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đặc biệt là các doanh nghiệp có điều kiện kinh doanh tốt, các công ty, tập đoàn lớn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Tuy kết quả đạt đƣợc chƣa thật sự giống nhƣ kỳ vọng của các ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng, các doanh nghiệp đặc biệt là trong hoàn cảnh nền kinh tế khó khăn nhƣ hiện nay nhƣng các Ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng, góp phần cải thiện hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Vì vậy, thông qua việc tìm hiểu hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân Đội, ngƣời viết mong rằng có thể phần nào làm rõ nhằm phát huy và nâng cao vai trò của ngân hàng thƣơng mại nói chung, Ngân hàng TMCP Quân Đội nói riêng trong hoạt động xuất nhập khẩu. Mục tiêu của đề tài Phân tích thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân Đội trong các năm qua, những điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng.
Trên cơ sở đó đề xuất các ý kiến nhằm khắc phục các điểm yếu, phát huy điểm mạnh để nâng cao chất lƣợng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu trên toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Quân Đội, điểm mạnh, điểm yếu và các yếu tố tác động đến chất lƣợng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Phƣơng pháp nghiên cứu Thực hiện thu thập số liệu từ các báo cáo của Ngân hàng TMCP Quân Đội qua các năm 2009, 2010, 2011 và năm 2012. Tham khảo các tài liệu chuyên ngành, tạp chí, các quy định để phục vụ cho việc nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sử dụng phƣơng pháp thống kê, so sánh và phân tích đánh giá, từ đó nêu ra những mặt đạt đƣợc và những hạn chế nhằm đƣa ra một số kiến nghị để hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân Đội đạt kết quả. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của Ngân hàng thƣơng mại, vì vậy việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận và khảo sát thực tiễn hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại MB mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng hoạt động này tại các ngân hàng thƣơng mại khác cũng nhƣ có giá trị tham khảo tốt cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Nghiệp vụ tài trợ xuất khẩu của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Nghiệp vụ tài trợ xuất khẩu là một nghiệp vụ mà trong đó ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng để thực hiện quá trình xuất khẩu hoặc đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục. Hiểu theo một cách đơn giản hơn thì tài trợ xuất nhập khẩu là một nghiệp vụ tín dụng, cho vay để giúp doanh nghiệp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu. Mục đích của tài trợ xuất khẩu là đẩy mạnh sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu và còn là một kênh tái tạo ngoại tệ cho nền kinh tế.
Các loại hình tài trợ xuất khẩu Căn cứ vào phương thức thanh toán, tài trợ xuất khẩu gồm có các loại hình sau: - Tài trợ xuất khẩu trong phƣơng thức thanh toán L/C Tài trợ xuất khẩu trong phương thức thanh toán L/C được thể hiện qua các hình thức sau: + Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở: thư tín dụng không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ tín dụng. Khi nhận được L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng từ hợp lý phù hợp với điều kiện đã ghi trong L/C. Nhà xuất khẩu có thể dựa vào đó để nhờ ngân hàng phụ cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng theo L/C qui định. Trên cơ sở L/C đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để sản xuất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Đối với L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đi vay. Nhà xuất khẩu có thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn quyền thụ hưởng L/C cho ngân hàng cấp phát tín dụng, đặc biệt thuận lợi hơn khi đó là một L/C trả chậm có xác nhận. + Cho vay chiết khấu hoặc ứng trƣớc chứng từ hàng xuất khẩu: để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ chưa được thanh toán. Như vậy, đối với nhà xuất khẩu, L/C không những là công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là công cụ đảm bảo tín dụng.
Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu trình. Có hai hình thức chiết khấu: Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): ngân hàng mua lại bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của người xuất khẩu. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng.
Ở Việt Nam, các ngân hàng ít sử dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng. Đó là những rủi ro liên quan đến nhà nhập khẩu, khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu và uy tín của nhà nhập khẩu trên thị trường. Chiết khấu được phép truy đòi (chiết khấu mở): ngân hàng thực hiện việc cho vay trên cơ sở người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Thời gian cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài.
Khi đó, trách nhiệm người xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được tiền từ người xuất khẩu. Khi chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu, tính theo ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 và mức phí dĩ nhiên thấp hơn trong trường hợp chiết khấu miễn truy đòi, vì rủi ro ngân hàng phải chịu thấp hơn trường hợp trên. Tác dụng hoạt động chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động cho người xuất khẩu để bảo đảm sản xuất kinh doanh liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng. Phạm vi chiết khấu bộ chứng từ thường chỉ được áp dụng trong phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ, do phương thức này có sự ràng buộc chặt chẽ việc giao hàng của người xuất khẩu, và trách nhiệm thanh toán của người nhập khẩu thông qua các ngân hàng phục vụ các bên, rủi ro thấp so với các phương thức thanh toán quốc tế khác.
Tín dụng chứng từ ứng tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán: đó là việc tạm ứng cho quyền hưởng thanh toán trong khuôn khổ thanh toán tín dụng chứng từ. Thời gian chờ thanh toán là một quá trình khá dài, nên nhà xuất khẩu cũng cần có một khoản tài trợ của ngân hàng, đó là khoản tín dụng ứng trước. Đối với tín dụng ứng trước loại này, những giấy tờ có giá theo lệnh (order papers) hoặc những giấy tờ chính như vận đơn, hóa đơn thương mại, hợp đồng bảo hiểm,… đều là những vật thế chấp cho ngân hàng, do đó, tất cả những giấy tờ có theo lệnh đều phải có khoản chuyển nhượng khống (blank endorsement) hoặc chuyển nhượng cho ngân hàng cấp tín dụng ứng trước.