Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lĩnh vực hóa dược và hóa học tổng hợp hữu cơ, các hợp chất dị vòng đóng vai trò cốt lõi trong việc phát triển các tiền chất thuốc mới có hoạt tính sinh học cao. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đào Huỳnh Phúc (chuyên ngành Hóa hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Tiến Công, tháng 5/2019) tập trung nghiên cứu phản ứng tổng hợp hệ dị vòng lai kết hợp giữa hai khung cấu trúc có hoạt tính dược lý mạnh: quinazolin-4(3H)-one và thiazolidine.

Theo tài liệu tổng quan được tác giả trình bày, dị vòng quinazoline (1,3-benzodiazine), đặc biệt là dẫn xuất 2-mercapto-3-phenylquinazolin-4(3H)-one, đã được chứng minh có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng như kháng khuẩn, kháng sốt rét, chống co giật và ức chế tế bào ung thư. Bên cạnh đó, dị vòng thiazolidine, tiêu biểu là khung 2-thioxo-1,3-thiazolidin-4-one (dẫn xuất rhodanine), sở hữu hoạt tính ức chế mạnh đối với virus, vi khuẩn và nhiều dòng tế bào ung thư. Dù hai dị vòng này đã được nghiên cứu riêng lẻ, các công trình tổng hợp phân tử tích hợp đồng thời cả hai dị vòng quinazoline và thiazolidine trên cùng một khung cấu trúc còn rất hạn chế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Nhiệm vụ 1: Thiết kế quy trình và thực hiện tổng hợp một số dẫn xuất mới của $N$-(5-aryliden-4-oxo-2-thioxothiazolidin-3-yl)-2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetamide đi từ các tiền chất ban đầu gồm acid anthranilic và phenylisothiocyanate qua 5 giai đoạn phản ứng liên tiếp.
  2. Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu, chứng minh cấu trúc hóa học của toàn bộ các hợp chất trung gian và sản phẩm mới tổng hợp được bằng các phương pháp phân tích phổ nghiệm vật lý hiện đại (FT-IR, $^{1}\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HR-MS) và xác định nhiệt độ nóng chảy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hợp chất 2-mercapto-3-phenylquinazolin-4(3H)-one (ký hiệu Q), các chất trung gian chuyển hóa gồm ethyl 2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetate (QE), 2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetohydrazide (QH), $N$-(4-oxo-2-thioxothiazolidin-3-yl)-2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetamide (QT) và 4 dẫn xuất arylidene gắn nhóm thế tại vị trí C-5 của vòng thiazolidinone: QT-2O, QT-3N, QT-4OH, QT-4Cl.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại Phòng Tổng hợp Hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; các phép đo phổ nghiệm được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Hà Nội và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG TP. Hồ Chí Minh; hoàn thành vào tháng 5 năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm

Đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết tổng hợp dị vòng quinazolin-4(3H)-one và thiazolidin-4-one, cùng các phản ứng chuyển hóa nhóm chức hữu cơ (thế nucleophile, acyl hóa, ngưng tụ khép vòng và ngưng tụ Knoevenagel).

Khung lý thuyết và các mô hình phản ứng được tác giả tham khảo và kế thừa gồm:

  • Mô hình đóng vòng tạo khung 2-mercapto-3-arylquinazolin-4(3H)-one từ dẫn xuất của acid anthranilic và isothiocyanate theo nghiên cứu của Alafeefy (2011) và các nhóm cộng sự.
  • Chiến lược chuyển hóa nhóm thiol ($-SH$) tại vị trí C-2 thành ester rồi sang acetohydrazide nhằm tạo trung gian hoạt động để gắn cầu nối và gắn thêm dị vòng thứ hai (theo mô hình của Godhani, Saeedi, Khalil, Suaad M. Al-Majidi).
  • Phản ứng tổng hợp dị vòng 2-thioxo-1,3-thiazolidin-4-one trực tiếp trong một giai đoạn từ hydrazide với tác nhân acid thiocarbonyl-bis-thioglycolic ($\text{S=C(SCH}_2\text{COOH)}_2$) theo nghiên cứu của Olexandra Roman và Roman Lesyk (2014).
  • Phản ứng ngưng tụ Knoevenagel trên nhóm methylene linh động tại vị trí C-5 của nhân rhodanine với các aldehyde thơm có mặt xúc tác base yếu (theo tài liệu của Mosula, Metwally, Bryhas).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và trang thiết bị phân tích bao gồm:

  • Phương pháp tổng hợp hữu cơ: Tiến hành các phản ứng hồi lưu nhiệt (reflux), kiểm soát tỷ lệ mol tác nhân, phân lập sản phẩm rắn bằng lọc hút chân không và tinh chế bằng phương pháp kết tinh lại trong hệ dung môi đơn hoặc hỗn hợp phù hợp.
  • Xác định nhiệt độ nóng chảy: Đo trên máy Gallenkamp tại Phòng Thí nghiệm Hóa Đại cương, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phổ hồng ngoại (FT-IR): Ghi trên máy FTIR-8400S SHIMADZU hoặc Shimadzu FTIR Affinity-1S bằng kỹ thuật ép viên nén với KBr.
  • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^{1}\text{H-NMR}$ và $^{13}\text{C-NMR}$): Đo trên máy Bruker Avance ở tần số 500 MHz ($^{1}\text{H}$) và 125 MHz ($^{13}\text{C}$), sử dụng dung môi DMSO-$d_6$ tại Phòng NMR, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Phổ khối lượng phân giải cao (HR-MS): Ghi trên máy Bruker MICROTOF-Q 10187 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày hệ thống tài liệu chuyên khảo về cấu trúc, phương pháp tổng hợp và hoạt tính sinh học của hai hệ dị vòng quinazoline và thiazolidine.

  • Dị vòng quinazoline: Giới thiệu cấu trúc khung 1,3-benzodiazine và hai hướng tổng hợp chính: (1) đi từ amine thơm qua phản ứng với $\text{CS}_2$, $\text{NaOH}$, $(\text{CH}_3)_2\text{SO}_4$ và methyl 2-aminobenzoate (Parthiban 2014, Godhani 2016); (2) đi từ acid anthranilic phản ứng trực tiếp với isothiocyanate (Alafeefy 2011). Tác giả tổng hợp các công trình chuyển hóa nhóm $-SH$ của quinazoline thành dẫn xuất thioether, liên kết với 1,2,3-triazole qua phản ứng Click chemistry (Saeedi 2018) cho hoạt tính ức chế enzyme $\alpha$-glucosidase gấp 6 lần Acarbose; chuyển hóa thành hydrazide để tạo các dị vòng oxadiazole, thiazolidinone, pyrrolidinedione có khả năng gây độc trên 9 dòng tế bào ung thư (Ashraf A. Khalil).
  • Dị vòng 2-thioxo-1,3-thiazolidin-4-one: Giới thiệu lịch sử, danh pháp các dẫn xuất rhodanine và các phương pháp khép vòng từ amine/aniline với $\text{CS}_2$ và muối chloroacetate (Danylo Kaminskyy, Hina Andleeb), hoặc phản ứng một giai đoạn giữa amine/hydrazide với acid thiocarbonyl-bis-thioglycolic đạt hiệu suất cao 77% (Roman & Lesyk). Đồng thời, chương 1 phân tích các phản ứng chuyển hóa trên vị trí C-5 methylene linh động bằng phản ứng ngưng tụ carbonyl tạo dẫn xuất arylidene có hoạt tính kháng tế bào ung thư thận, ung thư phổi, ung thư buồng trứng (Mosula) và kháng khuẩn mạnh (Metwally).

Chương 2: Thực nghiệm

Tác giả mô tả chi tiết quy trình hóa chất, tỷ lệ phản ứng, điều kiện tiến hành và thông số phân lập cho từng chất trong chuỗi chuyển hóa 5 bước:

  1. Tổng hợp 2-mercapto-3-phenylquinazolin-4(3H)-one (Q): Hồi lưu 5,48 g (0,04 mol) acid anthranilic và 5,40 g (0,04 mol) phenylisothiocyanate trong 50 ml ethanol với 0,1 ml triethylamine ($\text{Et}_3\text{N}$) trong 4 giờ. Lọc kết tủa, kết tinh lại bằng DMF thu 8,13 g chất Q (nhiệt độ nóng chảy $299\text{--}300^\circ\text{C}$).
  2. Tổng hợp ethyl 2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetate (QE): Khuấy 5,08 g (0,02 mol) Q và 2,76 g (0,02 mol) $\text{K}_2\text{CO}_3$ trong 50 ml DMF đến tan, thêm 2,45 g (0,02 mol) ethyl chloroacetate, đun hồi lưu 2 giờ. Đổ vào nước đá, lọc chất rắn, kết tinh lại bằng ethanol thu 4,42 g chất QE (nhiệt độ nóng chảy $136\text{--}138^\circ\text{C}$).
  3. Tổng hợp 2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetohydrazide (QH): Hòa tan 6,80 g (0,02 mol) QE trong 50 ml ethanol, thêm từ từ 1,5 g (0,03 mol) hydrazine hydrate chia làm 3 phần (mỗi phần 0,5 g cách nhau 1 giờ), đun hồi lưu tiếp 5 giờ. Đổ vào nước đá, lọc chất rắn, kết tinh lại bằng ethanol thu 3,59 g chất QH (nhiệt độ nóng chảy $228\text{--}229^\circ\text{C}$).
  4. Tổng hợp $N$-(4-oxo-2-thioxothiazolidin-3-yl)-2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetamide (QT): Đun hồi lưu hỗn hợp gồm 16,3 g (0,05 mol) QH và 11,3 g (0,05 mol) acid thiocarbonyl-bis-thioglycolic trong 50 ml ethanol trong 8 giờ. Để nguội, lọc chất rắn, kết tinh lại bằng ethanol thu 12,16 g chất QT (nhiệt độ nóng chảy $237\text{--}238^\circ\text{C}$).
  5. Tổng hợp 4 dẫn xuất $N$-(5-aryliden-4-oxo-2-thioxothiazolidin-3-yl)-2-((4-oxo-3-phenyl-3,4-dihydroquinazolin-2-yl)thio)acetamide: Hồi lưu 4,42 g (0,01 mol) QT, 0,01 mol aldehyde thơm tương ứng và 1,03 g (0,0125 mol) $\text{CH}_3\text{COONa}$ khan trong 20 ml $\text{CH}_3\text{COOH}$ băng trong 5 giờ.
Ký hiệu hợp chất Aldehyde thơm tham gia phản ứng Dung môi kết tinh lại Nhiệt độ nóng chảy ($^\circ\text{C}$) Trạng thái - Màu sắc
QT-2O 3,4-Methylenedioxybenzaldehyde (Piperonal) DMF : $\text{H}_2\text{O}$ (2:1) $226\text{--}228$ Bột màu vàng nâu
QT-4Cl 4-Chlorobenzaldehyde DMF : Dioxane : $\text{H}_2\text{O}$ (2:2:1) $214\text{--}216$ Bột màu vàng
QT-3N 3-Nitrobenzaldehyde DMF : $\text{CH}_3\text{COOH}$ (2:1) $200\text{--}201$ Bột màu vàng nâu
QT-4OH 4-Hydroxybenzaldehyde DMF : $\text{H}_2\text{O}$ $230\text{--}232$ Bột màu vàng

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 tập trung biện luận cơ chế hóa học của từng phản ứng và phân tích chi tiết dữ liệu phổ nghiệm để xác nhận cấu trúc của các hợp chất:

  • Biện luận tổng hợp và cấu trúc chất Q: Phản ứng xảy ra qua sự cộng nucleophile của nhóm amino trên acid anthranilic vào nhóm isothiocyanate của phenylisothiocyanate, tiếp theo là quá trình chuyển proton, tấn công nội phân tử đóng vòng và tách loại một phân tử $\text{H}_2\text{O}$. Phổ FT-IR cho thấy hấp thụ đặc trưng của nhóm $\text{N-H/S-H}$ tại $3217\text{ cm}^{-1}$ và nhóm $\text{C=O}$ quinazolinone tại $1658\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ xuất hiện tín hiệu singlet ở vùng trường rất yếu $\delta = 13,05\text{ ppm}$ ($1\text{H}$, $\text{-SH}$) cùng 9 proton thơm trải dài từ $7,33\text{ ppm}$ đến $8,18\text{ ppm}$ với tổng tích phân bằng 10 proton, phù hợp hoàn toàn với cấu trúc Q.
  • Biện luận tổng hợp và cấu trúc chất QE: Phản ứng thế nucleophile lưỡng phân tử ($\text{S}_\text{N}2$) giữa thiolat quinazoline với ethyl chloroacetate. Tác giả đã cải tiến quy trình so với y văn bằng việc thay thế dung môi ethanol/acetone (vốn hòa tan kém chất Q) bằng DMF, giúp phản ứng diễn ra đồng thể và rút ngắn thời gian từ 8 giờ xuống 2 giờ; đồng thời sử dụng $\text{K}_2\text{CO}3$ làm base yếu để tránh phản ứng phụ xà phòng hóa ester nếu dùng $\text{NaOH/KOH}$. Phổ FT-IR ghi nhận sự biến mất hoàn toàn của peak $\text{S-H}$ ($3217\text{ cm}^{-1}$), xuất hiện dao động hóa trị $\text{C}{sp^3}\text{-H}$ ($2985, 2932\text{ cm}^{-1}$) và $\text{C=O}$ ester ($1736\text{ cm}^{-1}$), $\text{C=O}$ vòng quinazolinone ($1684\text{ cm}^{-1}$). Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ chỉ rõ tín hiệu triplet của nhóm $-\text{CH}_3$ tại $\delta = 1,23\text{ ppm}$ ($3\text{H}, J = 7,0\text{ Hz}$), quartet của nhóm $-\text{CH}_2\text{CH}_3$ tại $\delta = 4,15\text{ ppm}$ ($2\text{H}, J = 7,0\text{ Hz}$), singlet của nhóm $-\text{S-CH}_2\text{-CO-}$ tại $\delta = 3,99\text{ ppm}$ ($2\text{H}$) và 9 proton thơm ($7,48\text{--}8,01\text{ ppm}$).
  • Biện luận tổng hợp và cấu trúc chất QH: Phản ứng thế nucleophile trên nhóm carbonyl acyl ($\text{S}_\text{N}2\text{ (CO)}$) giữa ester QE và hydrazine hydrate. Tác giả chia nhỏ lượng hydrazine thêm dần làm 3 lần nhằm hạn chế phản ứng xà phòng hóa. Phổ FT-IR cho thấy peak $\text{C=O}$ dịch chuyển từ $1736\text{ cm}^{-1}$ (ester) về $1690\text{ cm}^{-1}$ (amide/hydrazide) do hiệu ứng cộng hưởng liên hợp mạnh hơn từ nguyên tử nitrogen. Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ không còn tín hiệu của nhóm ethyl ($-\text{C}_2\text{H}_5$), thay vào đó là singlet của $-\text{NH}_2$ tại $\delta = 3,86\text{ ppm}$ ($2\text{H}$), singlet của $-\text{NH-}$ tại $\delta = 9,33\text{ ppm}$ ($1\text{H}$), $-\text{CH}_2-$ tại $\delta = 4,28\text{ ppm}$ ($2\text{H}$) và 9 proton thơm.
  • Biện luận tổng hợp và cấu trúc chất QT: Phản ứng ngưng tụ khép vòng thiazolidine giữa hydrazide QH và acid thiocarbonyl-bis-thioglycolic kèm theo sự tách loại acid thioglycolic ($\text{HSCH}_2\text{COOH}$) và nước. Phổ FT-IR ghi nhận peak tù $\text{N-H}$ tại $3201\text{ cm}^{-1}$, hai peak carbonyl $\text{C=O}$ tại $1759\text{ cm}^{-1}$ (vòng thiazolidinone) và $1689\text{ cm}^{-1}$ (vòng quinazolinone), peak $\text{C=S}$ tại $1249$ và $1172\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ mất tín hiệu $-\text{NH}_2$ ($3,86\text{ ppm}$), xuất hiện singlet của $-\text{NH-}$ tại $\delta = 11,31\text{ ppm}$ ($1\text{H}$), hai nhóm methylene phân biệt dưới dạng multiplet gồm $-\text{S-CH}2\text{-CO-}$ ngoài vòng tại $\delta = 4,13\text{ ppm}$ ($2\text{H}$) và $-\text{CH}2-$ trong dị vòng thiazolidine tại $\delta = 4,41\text{ ppm}$ ($2\text{H}$). Hiện tượng tách tín hiệu multiplet này được giải thích do hiệu ứng tương tác phi bậc nhất (Non-First Order Splitting). Phổ HR-MS cho peak ion giả phân tử $[\text{M+H}]^+ = 443,0367$ (tính toán lý thuyết cho $\text{C}{19}\text{H}{15}\text{N}_4\text{O}_3\text{S}_3^+$ là $443,0306$), khẳng định công thức phân tử của QT.
  • Biện luận tổng hợp và cấu trúc các dẫn xuất ngưng tụ QT-2O, QT-4Cl, QT-3N, QT-4OH: Phản ứng ngưng tụ Knoevenagel giữa C-5 của QT với aldehyde thơm tạo liên kết đôi $=\text{CH-Ar}$. Phổ FT-IR của cả 4 chất đều thể hiện dải hấp thụ $-\text{NH-}$ tù rộng ($3000\text{--}3200\text{ cm}^{-1}$), hai vùng hấp thụ mạnh của nhóm carbonyl $\text{C=O}$ ($1630\text{--}1710\text{ cm}^{-1}$ và $1710\text{--}1740\text{ cm}^{-1}$), nhóm $\text{C=S}$ ($1200\text{--}1270\text{ cm}^{-1}$), $\text{C=N}$ và $\text{C=C}$ ($1620\text{--}1680\text{ cm}^{-1}$). Đồng thời, các nhóm chức riêng biệt trên từng dẫn xuất được xác nhận rõ: peak $\text{C-Cl}$ của QT-4Cl tại $756\text{ cm}^{-1}$; hai dải đối xứng/bất đối xứng của nhóm $-\text{NO}_2$ ở QT-3N tại $1350$ và $1543\text{ cm}^{-1}$; dải hấp thụ $-\text{OH}$ của QT-4OH tại $3354\text{ cm}^{-1}$.

Chương 4: Kết luận

Tổng hợp lại toàn bộ kết quả thu được của khóa luận về mặt thực nghiệm, quy trình tối ưu và dữ liệu xác định cấu trúc của các hợp chất mới.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và dữ liệu thực nghiệm

Khóa luận đã hoàn thành toàn diện chuỗi phản ứng tổng hợp hữu cơ 5 giai đoạn, điều chế và tinh chế thành công 4 chất trung gian cùng 4 hợp chất mới chứa khung lai quinazoline-thiazolidinone với các thông số phổ nghiệm xác định:

Hợp chất Công thức / Khối lượng phân tử Thông số FT-IR chính ($\text{cm}^{-1}$) Tín hiệu $^{1}\text{H-NMR}$ đặc trưng ($\delta$, ppm, DMSO-$d_6$) Khối lượng HR-MS ($m/z$)
Q $\text{C}{14}\text{H}{10}\text{N}_2\text{OS}$ ($254,31$) $3217$ ($\text{N-H/S-H}$), $1658$ ($\text{C=O}$) $13,05$ ($s, 1\text{H}, \text{SH}$); $7,33\text{--}8,18$ ($m, 9\text{H}, \text{Ar-H}$) —
QE $\text{C}{18}\text{H}{16}\text{N}_2\text{O}_3\text{S}$ ($340,40$) $2985, 2932$ ($\text{C-H}$ no), $1736$ ($\text{C=O}$ ester), $1684$ ($\text{C=O}$) $1,23$ ($t, 3\text{H}$); $3,99$ ($s, 2\text{H}$); $4,15$ ($q, 2\text{H}$); $7,48\text{--}8,01$ ($m, 9\text{H}$) —
QH $\text{C}{16}\text{H}{14}\text{N}_4\text{O}_2\text{S}$ ($326,37$) $1690$ ($\text{C=O}$ amide), $3200\text{--}3300$ ($\text{NH, NH}_2$) $3,86$ ($s, 2\text{H}, \text{NH}_2$); $4,28$ ($s, 2\text{H}$); $9,33$ ($s, 1\text{H}, \text{NH}$); $7,48\text{--}8,10$ ($m, 9\text{H}$) —
QT $\text{C}{19}\text{H}{14}\text{N}_4\text{O}_3\text{S}_3$ ($442,53$) $3201$ ($\text{NH}$), $1759, 1689$ ($2\times\text{C=O}$), $1249, 1172$ ($\text{C=S}$) $4,13$ ($m, 2\text{H}$); $4,41$ ($m, 2\text{H}$); $11,31$ ($s, 1\text{H}, \text{NH}$); $7,48\text{--}8,10$ ($m, 9\text{H}$) $[\text{M+H}]^+ = 443,0367$ (LT: $443,0306$)
QT-2O Dẫn xuất 3,4-methylenedioxy $3000\text{--}3200$ ($\text{NH}$), $1710\text{--}1740, 1630\text{--}1710$ ($\text{C=O}$), $1200\text{--}1270$ ($\text{C=S}$) Tín hiệu nhóm thế methylenedioxy ($-\text{OCH}_2\text{O}-$) và hệ thơm Bảng phổ HR-MS
QT-4Cl Dẫn xuất 4-chloro $756$ ($\text{C-Cl}$), $1710\text{--}1740, 1630\text{--}1710$ ($\text{C=O}$), $1200\text{--}1270$ ($\text{C=S}$) Proton thơm liên kết nhân 4-chlorophenyl Bảng phổ HR-MS
QT-3N Dẫn xuất 3-nitro $1543, 1350$ ($\text{NO}_2$), $1710\text{--}1740, 1630\text{--}1710$ ($\text{C=O}$) Proton thơm liên kết nhân 3-nitrophenyl Bảng phổ HR-MS
QT-4OH Dẫn xuất 4-hydroxy $3354$ ($\text{O-H}$), $1710\text{--}1740, 1630\text{--}1710$ ($\text{C=O}$) Proton phenol $-\text{OH}$ và nhân thơm Bảng phổ HR-MS

Đóng góp về quy trình và khoa học

  • Đã xây dựng thành công quy trình tổng hợp một dãy các phân tử lai mới chứa đồng thời hai dị vòng quinazolin-4(3H)-one và 2-thioxo-1,3-thiazolidin-4-one với liên kết cầu nối acetamide.
  • Tác giả đã đưa ra các cải tiến thực nghiệm quan trọng:
    • Trong phản ứng tổng hợp QE, việc thay thế dung môi truyền thống (ethanol, methanol, acetone) bằng DMF và dùng base $\text{K}_2\text{CO}_3$ giúp khắc phục hoàn toàn hiện tượng không tan của Q, rút ngắn thời gian đun hồi lưu từ 8 giờ xuống 2 giờ và dễ dàng theo dõi phản ứng nhờ sự tạo tủa của sản phẩm.
    • Trong phản ứng tạo hydrazide QH, kỹ thuật chia nhỏ tác nhân hydrazine hydrate làm 3 lần thêm gián đoạn đã ngăn chặn hiệu quả phản ứng phụ thủy phân xà phòng hóa nhóm ester của chất nền trong môi trường kiềm.
    • Ứng dụng tác nhân acid thiocarbonyl-bis-thioglycolic để khép dị vòng thiazolidine trực tiếp từ acetohydrazide chỉ trong một giai đoạn phản ứng duy nhất với hiệu suất cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Trong khuôn khổ thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các bước tổng hợp hóa học, phân lập, tinh chế và xác định cấu trúc phổ nghiệm của các dẫn xuất mà chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trực tiếp (in vitro) đối với các chủng vi khuẩn, nấm hoặc các dòng tế bào ung thư như mong muốn ban đầu đã nêu trong phần đặt vấn đề.
  • Hướng phát triển tiếp theo:
    • Mở rộng dãy tổng hợp với các aldehyde thơm chứa nhiều nhóm thế khác nhau (nhóm cho điện tử, nhóm hút điện tử mạnh, dị vòng thơm) tại vị trí C-5 của nhân thiazolidinone.
    • Tiến hành sàng lọc hoạt tính sinh học (in vitro và in vivo) của các chất QT-2O, QT-4Cl, QT-3N, QT-4OH về khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virus và độc tính tế bào trên các dòng tế bào ung thư để kiểm chứng tác dụng cộng hưởng của hai dị vòng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Hóa học (Hóa hữu cơ, Hóa dược), Dược học: Cung cấp quy trình thực nghiệm chi tiết, thông số nhiệt độ nóng chảy, hệ dung môi kết tinh lại và các mẹo xử lý phản ứng hữu cơ (chọn lựa dung môi dipolar aprotic như DMF, kiểm soát tốc độ thêm tác nhân base).
  • Các nhóm nghiên cứu tổng hợp dị vòng: Cung cấp cơ sở dữ liệu phổ nghiệm đối sánh đầy đủ bao gồm số sóng FT-IR, độ dịch chuyển hóa học và độ phân tách tín hiệu trên phổ $^{1}\text{H-NMR}$ (đặc biệt là hiện tượng phân tách phi bậc nhất của các nhóm methylene), $^{13}\text{C-NMR}$ và khối lượng chính xác HR-MS cho hệ hợp chất quinazoline liên kết thiazolidine.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao phản ứng tổng hợp QE lại sử dụng DMF và $\text{K}_2\text{CO}_3$ thay vì ethanol/acetone và $\text{NaOH/KOH}$?
Hợp chất Q rất khó tan trong ethanol, methanol hoặc acetone khiến phản ứng kéo dài tới 8 giờ và khó quan sát tiến trình phản ứng. Sử dụng DMF giúp hòa tan hoàn toàn Q, đồng thời sản phẩm QE tạo thành kém tan trong DMF nên xuất hiện kết tủa ngay, rút ngắn thời gian phản ứng xuống 2 giờ. Base $\text{K}_2\text{CO}3$ được chọn vì có tính kiềm vừa phải, tránh làm thủy phân xà phòng hóa nhóm ester sản phẩm; đồng thời ion $\text{K}^+$ có bán kính lớn hơn $\text{Na}^+$ và $\text{Li}^+$, làm tăng độ phân ly của anion thiolat ($\text{Q}^-$), qua đó thúc đẩy tốc độ phản ứng thế $\text{S}\text{N}2$.

2. Kỹ thuật nào được sử dụng để nâng cao hiệu suất phản ứng tổng hợp acetohydrazide (QH) từ ester (QE)?
Tác giả đã chia 1,5 g hydrazine hydrate làm ba phần bằng nhau ($0,5\text{ g}$ mỗi phần) và thêm lần lượt vào bình phản ứng cách nhau một giờ. Kỹ thuật này giúp kiểm soát nồng độ base trong dung dịch, hạn chế tối đa phản ứng phụ xà phòng hóa ester của chất nền QE, từ đó nâng cao hiệu suất tạo thành hydrazide.

3. Tại sao tín hiệu hai nhóm methylene ($-\text{CH}_2-$) của chất QT trên phổ $^{1}\text{H-NMR}$ lại có dạng multiplet thay vì singlet?
Trên phổ $^{1}\text{H-NMR}$ của QT, nhóm $-\text{S-CH}_2\text{-CO-}$ ngoài vòng ($\delta = 4,13\text{ ppm}$) và nhóm $-\text{CH}_2-$ trong dị vòng thiazolidine ($\delta = 4,41\text{ ppm}$) đều xuất hiện dưới dạng multiplet do hiệu ứng tương tác tách tín hiệu phi bậc nhất (Non-First Order Splitting), xuất phát từ sự bất đối xứng không gian và ảnh hưởng chắn từ tính của các dị vòng lân cận.

4. Khối lượng phân tử của chất QT được xác nhận trên phổ HR-MS bằng giá trị nào?
Trên phổ HR-MS của hợp chất QT, peak ion giả phân tử $[\text{M+H}]^+$ đo được ở giá trị $m/z = 443,0367$, hoàn toàn phù hợp với khối lượng tính toán theo lý thuyết cho công thức ion $\text{C}{19}\text{H}{15}\text{N}_4\text{O}_3\text{S}_3^+$ là $443,0306$.

5. Các dẫn xuất arylidene (QT-2O, QT-4Cl, QT-3N, QT-4OH) được tổng hợp bằng phản ứng gì và trong điều kiện nào?
Các hợp chất này được tổng hợp qua phản ứng ngưng tụ Knoevenagel giữa nhóm methylene linh động ở vị trí C-5 của vòng thiazolidinone trong chất QT ($4,42\text{ g}, 0,01\text{ mol}$) với aldehyde thơm tương ứng ($0,01\text{ mol}$), đun hồi lưu trong 20 ml acid acetic ($\text{CH}_3\text{COOH}$) băng với sự có mặt của xúc tác natri acetate ($\text{CH}_3\text{COONa}$) khan ($1,03\text{ g}$) trong 5 giờ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Huỳnh Phúc đã thiết kế thành công quy trình thực nghiệm 5 bước nhằm tổng hợp chuỗi hợp chất lai mới chứa đồng thời hai khung dị vòng có tiềm năng dược lý cao là quinazolin-4(3H)-one và 2-thioxo-1,3-thiazolidin-4-one. Bằng việc tối ưu hóa các điều kiện dung môi, base và kỹ thuật tiếp nạp tác nhân, đề tài đã điều chế sạch 4 hợp chất trung gian và 4 dẫn xuất arylidene với hiệu quả phân lập cao. Cấu trúc của toàn bộ các sản phẩm đều được chứng minh một cách tường minh và tin cậy thông qua hệ thống dữ liệu phổ nghiệm vật lý hiện đại bao gồm IR, $^{1}\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$ và HR-MS.