phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình liên quan đã đƣợc công bo, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng: - Chwơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu TTTL của phụ nữ bị BLGĐ - Chwơng 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về TTTL của phụ nữ bị BLGĐ - Chwơng 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu - Chwơng 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn những TTTL của phụ nữ bị BLGĐ và bàn luận. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỔN THƢƠNG TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. NGHIÊN CỨU TỔN THƢƠNG TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở NƢỚC NGOÀI 1. Nghiên cứu tổn thƣơng tâm lý TTTL là hiện tƣợng von tồn tại hàng nghìn năm nay và đã đƣợc ghi nhận trong nhiều tác phẩm văn học, sử học (Ben Ezra, M.
2001) [74], tuy nhiên, nó chỉ đƣợc chính thức quan tâm tìm hiểu nhƣ một van đề sức khỏe tâm thần của con ngƣời vào cuoi thế kỷ 19. Đến nay, nghiên cứu về TTTL nƣớc ngoài đã tồn tại một so xu hƣớng chủ yếu sau: 1. Những nghi n c u lâm s ng sơ khai v tổn thương tâm lý Vào thập niên 80 của thế kỷ 19, TTTL do tác nhân bên ngoài gây ra đã đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Đáng chú ý là vào năm 1884, nhà tâm thần học ngƣời Đức Herman Oppenheim khi quan sát những bệnh nhân trải qua tai nạn lao động đã miêu tả các triệu chứng lâm sàng nhƣ sau: “Ở họ luôn có nỗi lo thwờng trnc, họ sợ phải koi mặt với những kích thích gợi lại sn ki n gây ra tai nạn, roi loạn giấc ngủ kèm theo những cơn ác m ng, dễ cáu gat, quá cảnh giác và thu mình lại”.
Oppenheim cũng là ngƣời đầu tiên gọi những roi nhiễu tâm lý ở các bệnh nhân này bằng thuật ngữ nhiễu tâm sau sang chấn (traumatischen neurosen) [3]. Tuy nhiên, Jean Martin Charcot vẫn đƣợc coi là ngƣời đầu tiên nghiên cứu moi quan hệ giữa chan thƣơng và bệnh tâm thần thông qua quá trình làm việc với phụ nữ tổn thƣơng trong bệnh viện Salpetriere. Trọng tâm nghiên cứu của Charcot là sự cuồng loạn (“hysteria”) để chỉ những triệu chứng thần kinh không có cơ sở y học, đƣợc đ c trƣng bởi tình trạng tê liệt đột ngột, mat trí nhớ, mat cảm giác, co giật. Trƣớc thời ky của Charcot, chứng cuồng loạn vẫn đƣợc coi là giả vờ, giả mạo và không đƣợc xem xét nghiêm túc, với hầu hết bệnh nhân là phụ nữ nên ngƣời ta đã coi những triệu chứng này có nguồn goc từ tử cung và cách điều trị phổ biến là 8 cắt bỏ tử cung (Shoshana Ringel và cộng sự, 2012) [96].
Charcot là ngƣời đầu tiên hiểu rằng nguồn goc của triệu chứng cuồng loạn không phải là sinh lý mà có bản chat tâm lý, đồng thời nhan mạnh vai trò của sự kiện gây ra sự sợ hãi. Trong thời gian này, Emil Kraepelin đã đƣa ra khái niệm về bệnh nhiễu tâm gắn liền với nỗi khiếp sợ của mỗi cá nhân, cho rằng một ngƣời chỉ cần chứng kiến một vụ tai nạn cũng có thế dẫn đến nhiễu tâm gắn liền với sự khiếp sợ. Quan sát bệnh nhân song trong hoàn cảnh có nhiều sự kiện gây TTTL, Kraepelin chỉ ra những triệu chứng lâm sàng của họ: roi loạn giac ngủ, khó khăn trong các moi quan hệ xã hội, giảm hứng thú trong cuộc song, tăng mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, có dau hiệu trầm cảm, ám sợ khoảng trong, hoang tƣởng (dt. Một sinh viên của Charcot là Pierre Janet tiếp tục nghiên cứu về hiện tƣợng phân ly và ký ức sang chan đã coi TTTL giong nhƣ sự khiếp sợ do cá nhân phải trải qua một tai nạn ho c một cuộc tan công có ho c không có sự tổn thƣơng cơ thể.
Nó cũng có thể là hậu quả của một cú soc tâm lý do cá nhân bị lạm dụng tình dục, bị cƣỡng dâm ho c loạn luân, cũng có thể là kết quả của việc cá nhân chứng kiến cái chết ho c cảnh bạo lực tàn nhẫn dẫn đến cái chết của một ngƣời. Ông cho rằng một cá nhân bị TTTL thƣờng có triệu chứng: suy nhƣợc thần kinh và tâm thần, run chân tay, căng trƣơng lực cơ, mat cảm giác, liệt ho c sợ hãi, ám sợ, roi nhiễu hành vi. Đóng góp quan trọng nhat của những nghiên cứu lâm sàng cuoi thế kỷ 19 là đã phát hiện rằng TTTL không phải có nguyên nhân sinh lý mà là mang bản chat tâm lý, với những nguyên nhân từ bên ngoài cơ thể - do cá nhân trải qua ho c chứng kiến một sự kiện gây sang chan. Đây là những van đề rat cơ bản, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của lý thuyết TTTL hiện đại sau này.
Nghi n c u TTTL theo trường ph i phân tâm học Khi nghiên cứu về chứng cuồng loạn, Sigmund Freud đã chịu ảnh hƣởng của Charcot, kế thừa khái niệm hysteria và đi theo một so ý tƣởng của ông ay. Trong cuon “Nghiên cứu về Hysteria (1893), đồng tác giả với Josef Breuer, Freud gọi tổn thƣơng phân ly là "cuồng loạn mơ màng" (hypnoid hysteria) và nhan mạnh moi quan hệ của nó với một tổn thƣơng tiền nghiệm trƣớc đó. Họ cũng nhắc đến sự 9 giong nhau về m t triệu chứng lâm sàng của hysteria và bệnh nhiễu tâm TTTL dƣới góc độ tâm bệnh học, coi TTTL không bao gồm tổn thƣơng về thực thể, mà chỉ có sự tổn thƣơng về cảm xúc. Những triệu chứng hysteria làm n ng thêm sự TTTL do những tác nhân gắn với sự kiện gây sang chan tâm lý gợi lại những cảm xúc lo âu, sợ hãi, xau hổ, khiếp sợ ở bệnh nhân (S.
Freud và cộng sự, 1895) [3]. Freud nhan mạnh triệu chứng lâm sàng đ c trƣng của bệnh hysteria là sự tái hiện trở lại của những ý nghĩ, hình ảnh, ý tƣởng, sợ hãi khi chủ thể đoi m t với sự kiện gây sang chan tâm lý. Đến năm 1896, ông đã phát triển khái niệm hysteria trở thành lý thuyết tính dục, cho rằng "một trải nghiệm sớm các quan hệ tính dục. do bị lạm dụng tình dục bởi ngƣời khác.
là nguyên nhân cụ thể của hysteria (chứng cuồng loạn). chứ không chỉ đơn thuần có một tác nhân kích động" (Van der Kolk, Weisaeth, và cộng sự, 1996, tr. Trong thập kỷ của những năm 1880, Freud và Breuer cũng nhƣ Janet độc lập kết luận rằng TTTL đã gây ra hysteria, cho rằng các phản ứng không thể chịu nổi với những trải nghiệm tổn thƣơng đã tạo ra một trạng thái thay đổi của ý thức mà Janet gọi là "phân ly". Sau đó, Freud đã phát triển thành một luận điểm không đƣợc ƣa chuộng, gọi là "lý thuyet quyen rũ" (seduction theory), cho rằng, ".
luận kiểm là ở dwới cùng của tất cả các trwờng hợp cuong loạn kều có m t hoặc nhiều lan xuất hi n trải nghi m tình dục sớm. Nhƣng lý thuyết này không đƣợc nhiều ngƣời chap nhận, nên nó đã đƣợc thay đổi để tập trung vào cuộc xung đột nội tâm (nó/cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi) xung quanh bản năng tính dục. Sau chiến tranh thế giới thứ nhat, Freud đã chuyển những gì từng đƣợc gọi là "lý thuyết quyến rũ" sang lý thuyết xung đ t (conflict theory). Đây chính là điểm trọng tâm trong lý thuyết của S.
Freud về sự TTTL, trong đó chỉ ra rằng không phải ký ức về tổn thƣơng ở bên ngoài (cơ thể) đã gây ra các triệu chứng cuồng loạn mà chính là bản chat không thể chap nhận những mong muon tình dục và gây han mới là nguyên nhân của hysteria. Cũng trong chiến tranh thế giới thứ nhat, các bác sĩ tâm thần quan sát thay rat nhiều ngƣời lính bị suy sụp tinh thần (mental breakdowns), đƣợc gọi là hội chứng 10 "Shell Shock" (nghĩa đen là: cú soc do đạn trái pháo), biểu hiện: lo âu ở mức độ cao, co giật cơ mat kiểm soát/ho c cứng cơ, ác mộng, hồi tƣởng và ảo giác (giong triệu chứng cuồng loạn ở nữ giới –“female hysteria”) và kết hợp với những xúc cảm bị bế tắc ho c kìm nén: khóc lóc, la hét không thể kiểm soát, mat trí nhớ [52]. Năm 1923, Abram Kardiner- một ngƣời Mỹ theo trƣờng phái phân tâm, bắt đầu điều trị các cựu chiến binh Mỹ bị tổn thƣơng trong chiến tranh và thay rằng "chủ thể hành động khi nếu trạng thái tổn thƣơng ban đầu vẫn còn tồn tại và tham gia vào các phƣơng kế bảo vệ - cái mà đã that bại ngay từ cơ hội ban đầu" (Van der Kolk, Weisaeth và cộng sự, 1996, tr. Trong khi nhiều nhà lý luận coi hội chứng "Shell Shock" là giả vờ, thì Kardiner đƣa ra khái niệm "loạn than kinh chien tranh" (war neurosis), giải thích rằng, bat ky con ngƣời nào cũng có thể bị ảnh hƣởng bởi sự tàn bạo của chiến tranh và các triệu chứng đó là một phản ứng bình thƣờng với một tình thế không chịu nổi (Shoshana R.
và cộng sự, 2012) [96]. Nhƣ vậy, các nhà Phân tâm học đã nhìn thay những van đề then chot, phản ánh bản chat của TTTL. Đ c biệt, với luận thuyết tổn thƣơng sau sang chan - từ mô hình goc về chứng loạn thần kinh- “Lý thuyet quyen rũ”, cho đến “lý thuyet xung k t”, tƣ tƣởng của Freud đã ảnh hƣởng quan trọng đoi với suy nghĩ của ngƣời Mỹ và Châu Âu về TTTL, thậm chí, đƣợc coi là thong trị tƣ tƣởng trong ngành y-tâm bệnh học một thời gian dài ở Mỹ, từ khoảng năm 1895 đến thời ky kết thúc chiến tranh Việt Nam (1962-1975) (John P. Lý thuyết TTTL hiện đại gắn với nghi n c u s c khỏe tâm thần Lý thuyết tổn thƣơng hiện đại trong boi cảnh dân sự đƣợc phát triển sau Vụ hoả hoạn Cocoanut Grove năm 1942 ở Boston (Mỹ) tại một hộp đêm với 493 ngƣời thiệt mạng.
Tiến sĩ Lindemann điều trị một so ngƣời song sót đã quan sát thay rằng họ cùng biểu hiện những phản ứng giong nhau, nên đã đƣa ra giả thuyết về những phản ứng thƣờng g p với nỗi đau, bao gồm cả sự lo lắng khi bị mat ngƣời thân yêu, việc nhận dạng ngƣời chết, những biểu hiện tội lỗi và sự thù địch, phá vỡ tổ chức, và những cơn đau dạng cơ thể (Lindemann, 1944) [dt. 11 Caplan cũng làm việc với các nạn nhân của đám cháy Cocoanut Grove và là ngƣời đầu tiên mô tả có hệ thong các thành to của sự khủng hoảng, đồng thời nói đến tình trạng khủng hoảng của con ngƣời khi họ phải đoi m t với sự cản trở các mục tiêu quan trọng của cuộc song.