ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 (dịch COVID-19) đã lan rộng ra 185 nước trên toàn thế giới và được Tổ chức y tế thế giới (WHO) tuyên bố là một đại dịch gây ra vấn đề y tế cộng đồng khẩn cấp ở mức độ toàn cầu. Tính đến ngày 23 tháng 07 năm 2021, số ca mắc và chết trên toàn thế giới lần lượt là 192.518 người(1), và con số này vẫn được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tới. Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đang có diễn biến khá phức tạp với số ca mắc là 78.269 với 370 trường hợp chết được ghi nhận (1). Đại dịch COVID-19 đang làm gia tăng sự bất bình đẳng giới ngày càng trầm trọng hơn, đặc biệt là gây ra tác động tiêu cực ở phụ nữ.
Người phụ nữ không chỉ chịu tác động của sự mất việc làm, giảm thu nhập, tăng gánh nặng làm việc nhà mà còn phải đối mặt với những tác động xấu liên quan đến sức khỏe. Theo một báo cáo tóm tắt của Liên minh chống tấn công tình dục Minnesota (MNCASA)(2) về tác động của dịch COVID- 19, thì đối với phụ nữ chịu ảnh hưởng bởi bạo lực gia đình, việc cách ly xã hội đã đẩy vấn đề bạo lực ở phụ nữ tăng cao ở mức đáng lo ngại do thời gian ở nhà tăng lên, điều này gây ra hệ quả xấu cho sức khỏe thể chất, tinh thần cũng như sức khỏe sinh sản ở phụ nữ. Theo báo cáo quốc gia tại Việt Nam tỷ lệ bạo lực gia đình đã từng bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực (thể xác, tình dục, tinh thần, bạo lực kinh tế và kiểm soát hành vi) do chồng gây ra trong đời là rất cao ở mức 58% (điều tra năm 2010)(3), Tỷ lệ bạo lực gia đình ở mức 62,9% (điều tra năm 2019)(4), đây là một con số đáng báo động. Vì vậy nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một nhóm dễ bị tổn thương và cần được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong thời gian diễn ra đại dịch COVID -19.
Khi người phụ nữ đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình phải đối diện với tình trạng mất việc làm, giảm thu nhập và phải ở nhà trong thời gian dài cùng với người chồng/bạn tình đã từng gây ra bạo lực đối với họ, điều đó sẽ khiến cho người phụ nữ đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình sẽ phải đối diện với nguy cơ bị bạo lực trở lại và đôi khi hậu quả khó lường hơn trước. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có những bằng chứng về những tác động của dịch COVID-19 ở phụ nữ bị bạo lực tại Việt Nam. Vì vậy, Trung tâm Nghiên cứu khoa học sức khỏe - Trường Đại học Y tế công cộng và Viện Nghiên 2 cứu Phát triển Xã hội phối hợp thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tác động của dịch COVID-19 đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Hà Nội năm 2020” (BLGD-COVID- 19). Đây là nghiên mô tả cắt ngang trên 303 phụ nữ đã từng bị bạo lực gia đình (thể chất/ tinh thần/ tình dục) với mục tiêu đánh giá tác động của dịch COVID-19 lên tình trạng bạo lực gia đình và tìm hiểu hậu quả do bạo lực gia đình gây nên.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng muốn hiểu rõ hơn về các chiến lược ứng phó của phụ nữ khi trải qua các tình huống bạo lực gia đình trong thời gian diễn ra dịch COVID -19. Nghiên cứu “Bạo lực gia đình trong thời gian dịch COVID-19 ở những phụ nữ đã từng bị bạo lực gia đình tại Thành phố Hà Nội, năm 2020”, là một phần trong nghiên cứu được đề cập ở trên nhằm tìm hiểu sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực gia đình của những phụ nữ đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình trước đây, mà nghiên cứu gốc chưa phân tích. Từ đó đưa ra những bằng chứng khoa học nhằm giúp cho các ban ngành địa phương, các bên liên quan có thể đưa ra những giải pháp phù hợp và ngăn ngừa được tình trạng bạo lực gia đình quay trở lại ở những phụ nữ từng là nạn nhân của BLGĐ, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID -19. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng bạo lực gia đình trong dịch COVID-19 đợt 1 (23/01/2020 – 23/4/2020) đối với những phụ nữ đã trải qua bạo lực gia đình tại Hà Nội. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực gia đình trong dịch COVID-19 đợt 1 đối với những phụ nữ đã trải qua bạo lực gia đình tại Hà Nội. Mô tả cách ứng phó với bạo lực gia đình của phụ nữ đã trải qua bạo gia đình trong thời gian diễn ra dịch COVID-19 đợt 1 tại Hà Nội. Các khái niệm về Bạo lực và phân loại bạo lực 1.
Khái niệm bạo lực, bạo lực gia đình Bạo lực là “việc sử dụng vũ lực hay sức mạnh thể chất có chủ ý đe dọa hoặc hành động chống lại bản thân mình, một người khác hoặc chống lại một nhóm người hoặc cộng đồng mà gây ra hoặc có khả năng cao gây ra thương tích, tử vong, tổn thương về tâm lý, hạn chế hoặc rối loạn sự phát triển”(5). Bạo lực gia đình trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thường sẽ được hiểu chung chung là bạo lực xảy ra trong một gia đình, chủ yếu là đối với người vợ, có thể do người chồng, hoặc những người khác trong gia đình gây ra. Khuôn khổ pháp luật của Việt Nam chỉ tập trung vào bạo lực gia đình và định nghĩa một số hành vi cụ thể cấu thành hành vi bạo lực do một thành viên trong gia đình thực hiện đối với một thành viên khác. Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 (6), trong điều 2 luật này thì Bạo lực gia đình (BLGĐ) được định nghĩa: BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có thể gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình.
Các hành vi bạo lực được mô tả cụ thế như sau: 1) Hành hạ, đánh đập, ngược đãi hoặc có những hành vi khác cố ý gây hại đến sức khỏe và tính mạng của nạn nhân BLGĐ. 2) Thường xuyên tạo áp lực về tâm lý như cô lập, xua đuổi, lặng mạ hay cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm gây nên các hậu quả nghiêm trọng. Ngăn cản nạn nhân không được gặp gỡ tiếp xúc với người thân ruột thịt như ông bà, cha với cháu, cha mẹ và con cái, gữa vợ và chống, các anh chị em với nhau. 3) Có những hành vi cưỡng chế về hôn nhân đôi lứa như cưỡng ép tảo hôn, ép kết hôn, ép ly hôn hoặc ngăn cấm hôn nhân tự nguyện, hay có hành vi ép quan hệ tình dục khi nạn nhân không mong muốn.
4) Hành vi chiếm đoạt, đập phá hoặc cố tình làm hư hỏng tài sản riêng của những thành viên khác trong nhà hoặc đó là những tài sản chung của gia đình. Ép buộc các thành viên trong gia đình lao động quá sức và phải đóng góp tài chính quá khả năng của họ, hoặc kiểm soát công việc thu nhập của thành viên gia đình để họ bị phụ thuộc về tài chính. 5) Hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật khiến cho các thành viên gia đình rời khỏi nơi đang ở. 5 Theo một nghiên cứu của WHO trên 10 quốc gia đang phát triển về sức khỏe phụ nữ và bạo lực gia đình đối với phụ nữ (7) có đưa ra những hướng dẫn về bạo lực giữa vợ chồng trong gia đình gồm các hành vi của bạo lực thể chất như sau: (1) Tát hoặc ném vật gì có thể gây ra đau; (2) Đánh bằng tay hoặc bất kỳ vật gì có thể gây ra đau; (3) Đá, kéo hoặc đẩy ngã; (4) Bóp cổ gây bỏng một cách cố ý; (5) Đe dọa sử dụng hoặc sử dụng súng, dao hay vũ khí khác chống lại phụ nữ.
Với nhóm bạo lực tinh thần bao gồm: (1) Lặng mạ, sỉ nhục; (2) Làm bẽ mặt trước mặt người khác; (3) Đe dọa (hăm dọa) làm cho người phụ nữ sợ hãi có chủ ý; (4) Đe dọa đánh người thân mà người phụ nữ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng… Nhóm bạo lực tình dục bao gồm: (1) Quan hệ tình dục khi người vợ không muốn vì họ sợ những điều người chồng có thể làm; (2) Dùng vũ lực ép quan hệ tình dục (QHTD) khi người phụ nữ không muốn quan hệ; (3) Ép người vợ QHTD với những hành vi không bình thường. Ngoài những nhóm bạo lực trên thì trong nghiên cứu có đề cập đến việc hành vi kiểm soát của chồng/bạn tình đối với người phụ nữ bao gồm: (1) ngăn cô ấy gặp bạn bè, (2) Hạn chế liên lạc với gia đình mẹ đẻ, (3) Luôn luôn muốn biết cô ấy đang ở đâu, (4) Phớt lờ hoặc thờ ơ với cô ấy, (5) Tức giận nếu cô ấy nói chuyện với người đàn ông khác, (6) Thường buộc tội cho cô ấy là không chung thủy, (7) Kiểm soát việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của cô ấy. Trong báo cáo của điều tra quốc gia về bạo lực gia đình tại Việt Nam năm 2010 và 2019 (3,4) đã phân loại các loại bạo lực gia đình đối với phụ nữ cũng tương tự theo nghiên cứu của WHO ở trên có các nhóm bạo lực: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tâm lý và các hành vi bạo lực về kinh tế hay còn được coi là bạo lực kinh tế(4). Trong đó nhóm bạo lực tâm lý được phân thành: bạo lực tinh thần và các hành vi kiểm soát.
Như vậy, khi nói về bạo lực nói chung và BLGĐ nói riêng WHO cũng như văn bản pháp luật Việt Nam đã xác định BLGĐ là những hành động có chủ đích gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục của người khác và chủ yếu là người phụ nữ. Tuy nhiên trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đã không nêu khái niệm những ảnh hưởng về sức khỏe bạo lực tình dục. Và điều này cũng thấy trong cách phân loại BLGĐ theo một số tác giả Việt Nam bạo lực tình dục nằm trong bạo lực thể chất (4,8). Trong nhiều tài liệu về bạo lực, bạo lực gia đình đã đưa ra những quy định cụ thể về hành vi bạo lực và có thể tạm phân thành 4 loại hành động bạo lực về thề chất, bạo lực tâm lý 6 (bao gồm bạo tinh thần và/hoặc các hành vi kiểm soát), bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế đã được mô tả cụ thể như ở trên (3,4,8,9).