Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VU KHỐNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI VU KHỐNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội vu khống Để có thể làm rõ khái niệm tội vu khống thì cần phải làm rõ khái niệm vu khống. Theo Từ điển tiếng Việt, “Vu khống là bày điều không có để hại người” [21, tr.
Như vậy, có thể hiểu vu khống là bịa đặt ra những chuyện không có thực để hãm hại người khác, làm cho danh dự của người khác bị xúc phạm, hay bị thiệt hại về tài sản, sức khoẻ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người là vốn quý nhất, luôn được Nhà nước bảo vệ và đảm bảo bằng Hiến pháp và bằng pháp luật, điều này đã được ghi nhận tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [27]. Đối với con người quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là một trong những quyền quan trọng nhất trong các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền được tôn trọng về danh dự và nhân phẩm. Bởi vì nó tác động trực tiếp đến mặt tinh thần của mỗi con người.
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học đã đưa ra khái niệm vu khống như sau: Thạc sỹ Đinh Văn Quế cho rằng, “Vu khống là hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người khác, hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền” [24, tr. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tác giả của Bình luận khoa học, Bộ luật hình sự năm 1999 (Phần các tội phạm) cũng cho rằng, “Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc đưa tin một chuyện xấu xa, không có thật để làm mất danh dự, uy tín của người khác hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” [22, tr. Tóm lại, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi khái niệm đang nghiên cứu được hiểu như sau: Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều không có thật nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền. Tiếp theo cần phải hiểu được thế nào là “danh dự” và “nhân phẩm”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “danh dự là phạm trù đạo đức chỉ lòng tôn trọng của con người trong mọi cử chỉ, hành vi” [39, tr. Người có danh dự biết tôn trọng lời mình đã hứa và có ý thức bảo vệ danh dự của mình, của dòng họ, của đoàn thể, Tổ quốc mình. Mất danh dự có nghĩa là mất sự tin yêu, mến phục của người khác và đối với người có danh dự, thì đó là tổn thất lớn nhất. Theo Đại từ điển tiếng Việt, "nhân phẩm là phẩm chất và giá trị con người" [46, tr.
Nhân phẩm và danh dự là những giá trị nội tại, vốn có được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển và hoàn thiện của con người về mặt nhân tính. Đây là thuộc tính chung của tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại, không dựa trên bất kỳ sự phân biệt hay khác biệt nào về địa vị xã hội, kinh tế, chính trị, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, giới tính,… Nhân phẩm và danh dự của con người chính là những cái làm nên sự khác biệt và cũng là bước tiến vượt bậc của con người với phần còn lại của giới tự nhiên. Vì chúng là những giá trị chỉ thuộc tính chung của con người, do vậy, tôn trọng nhân phẩm, danh dự của mỗi cá nhân con người là sự tôn trọng đối với chính mình, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với đồng loại. Tôn trọng nhân phẩm, danh dự của con người là tôn trọng những giá trị của con người, nhờ đó con người thực hiện được sự công bằng và bình đẳng.
Tiếp theo đó cần làm rõ khái niệm tội vu khống. Hiện nay vẫn chưa có nhà hình sự học nào đưa ra khái niệm về tội vu khống. Tuy vậy, tội vu khống là một trong mười tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, được quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999. Do đó, tội vu khống phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo GS.TSKH Lê Văn Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [4, tr.
Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi dưới góc độ khoa học có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Tội vu khống là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Ý nghĩa của việc quy định tội vu khống trong luật hình sự Việt Nam Qua nghiên cứu tội vu khống trong luật hình sự Việt Nam chúng ta có thể rút ra một số ý nghĩa cơ bản của việc quy định tội vu khống trong Bộ luật hình sự như sau: Thứ nhất, biểu hiện cụ thể mối quan hệ chặt chẽ giữa đạo đức và pháp luật hình sự. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đạo đức và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội, có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình điều chỉnh hành vi của con người. Pháp luật lấy đạo đức làm cơ sở, nhiều quy tắc, chuẩn mực đạo đức được Nhà nước thừa nhận đã trở thành quy phạm pháp luật và Nhà nước cũng sử dụng pháp luật để bảo vệ đạo đức.
Bộ luật hình sự năm 1985, cũng như Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội vu khống, điều đó có nghĩa, các giá trị đạo đức như nhân phẩm, danh dự của con người được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Thông qua việc quy định hành vi bịa đặt những điều không có thực nhằm xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người là tội phạm và phải chịu hình phạt – biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, pháp luật hình sự đóng vai trò tác động mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển nền đạo đức mới, đạo đức hướng tới con người, tôn trọng con người và vì con người. Đạo đức nói chung, các giá trị đạo đức như nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, một mặt kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống, phản ánh những yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội, nhưng mặt khác, nó phải bảo đảm phù hợp với những yêu cầu của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng, khuyến khích công dân tuân thủ pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người nói chung và tội vu khống nói riêng.
Cuộc đấu tranh phòng, chống tội vu khống là một bộ phận của cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người nói chung nhằm bảo vệ quyền cơ bản của con người ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên mọi hoạt động của nhà nước là phải nhằm mục đích phục vụ nhân dân kể cả các quy phạm pháp luật cũng phải thể hiện được ý chí của nhân dân. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy phạm pháp luật hình sự về tội vu khống vừa có tính chất cấm chỉ, vừa có tính chất bắt buộc. Quy phạm này, một mặt cấm người ta không được có hành vi bịa đặt hay loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền bằng sự răn đe áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, mặt khác, quy phạm pháp luật hình sự này cũng buộc các cơ quan có trách nhiệm khi phát hiện có dấu hiệu của tội vu khống, thì phải điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm minh, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với việc bảo vệ và phát triển quyền con người nói chung, nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhà nước ta khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hiện đại hóa đất nước. Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định tội vu khống, cũng như các quy định khác về quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam chứng tỏ, mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người.
Thứ tư, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của công dân, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định tội vu khống góp phần quan trọng trong việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người, đồng thời góp phần tích cực vào nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.