chương I, Luật Doanh nghiệp nhà nước. Dé doanh nghiệp có thé độc lập trong quá trình tổ chức SXKD, Nhà nước thực hiện chuyên giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp. Từ đó, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn luôn phải giữ vững mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Dé thực hiện mục tiêu, DNNN cần phải theo sát từng biến động của vốn và tài sản, hạch toán theo đúng chuẩn mực kế toán Việt Nam, tránh dé xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản và vốn của nhà nước.
Dựa theo tình hình kinh doanh, DN có thé lựa chọn cơ cấu tài sản và nguồn vốn sao cho phù hợp nhất. Trên cơ sở đó, DNNN thực hiện việc mở số và hạch toán theo dõi chính xác toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành; phản ánh một cách chính xác và đúng thời điểm những thay đổi, biến động về mặt tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp trong quá trình SXKD. Theo đó, DNNN có nghĩa vụ sử dụng nguồn vốn từ ngân sách để kinh doanh đảm bảo ba nguyên tắc: sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu hiệu quả, bảo toàn nguồn vốn và phát triển nguồn vốn. Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng nguồn tiền từ vốn và quỹ khác với mục đích sử dụng ban đầu như việc sử dụng quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.để đưa vào hoạt động SXKD thì phải hoàn trả quỹ đó sau khi hoàn thành mục tiêu kinh doanh.
Thêm vào đó, DN có thể thực hiện cơ cấu lại tài sản và các loại vốn để thuận lợi nhất cho việc phát triển SXKD. 18 Đồng thời, DNNN phải xây dựng quy định chung về hoạt động quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp; trong đó quy định rõ về việc khi dé xảy ra hư hỏng, thất thoát tài sản thì cá nhân hay bộ phận nào của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Với mỗi kỳ kế toán và khi năm tài chính kết thúc, toàn bộ tài sản và nguồn vốn cần phải được kê khai; tính toán chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mat pham chat: xac dinh nguyén ngân và cá nhân chịu trách nhiệm, từ đó làm co sở để đưa vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Đối với những khoản nợ của doanh nghiệp, cần phải thực hiện mở tài khoản theo dõi một cách chỉ tiết từng khoản mục nợ phải thu trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.
Tuy theo quy định của nhà nước và nhu cầu của doanh nghiệp, cuối mỗi kì kế toán, dựa trên các ghi chép đã được thực hiện trong kì, doanh nghiệp cần thực hiện so sánh, tổng hợp và phân tích rõ ràng các khoản phải thu; đặc biệt cần chú ý đến tình hình của những khoản nợ đến hạn, quá hạn cũng như nợ khó đòi. Nhanh chóng xác định mức độ, nguyên nhân của các khoản nợ không thu hồi được, từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý để khắc phục. Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, các DNNN có thê cho thuê hoạt động các tài sản mà doanh nghiệp đang nam giữ nhưng không có nhu cầu sử dụng, nhằm tận dụng tối đa nguồn lực về tài sản, đồng thời tăng thu nhập nhưng vẫn phải giám sát chặt chẽ, thu hồi tài sản khi hết hạn hợp đồng. Trường hợp tài sản cho thuê hoạt động, DN vẫn phải trích khấu hao tài sản định kỳ theo đúng hướng dẫn của chuẩn mực kế toán.
Ngoài ra, đối với những tài sản không sử dụng, không còn phù hợp với trình độ sản xuất của DN, DNNN có thê thực hiện nhượng bán, thanh lý dé nhận lại vốn và sử dụng khoản tiền nhận được cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn. Khoản tiền thu được do chênh lệch giữa giá thanh lý, nhượng bán tài sản so với tổng của giá trị còn lại của tài sản và chi phí dé bán tài sản (nếu có), doanh nghiệp cần phải đưa vào kết quả kinh doanh cuối ki. Bộ phận kế toán cần phải đánh giá lại giá trị của tài sản và ghi tăng hoặc giảm tương ứng với khoản chênh lệch trong các trường hợp sau: Cơ quan nhà nước có thâm quyền yêu cầu DN thực hiện đánh giá lại tài sản; Cổ phần hóa doanh nghiệp hoặc đa dạng hóa các hình thức sở hữu doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu cho chủ sở hữu khác; Sử dụng tài sản trong hoạt động liên doanh hoặc góp vốn cô phan. Khi sử dụng tài sản dé góp von 19 cô phan, cần phải hạch toán đối với cả hai thời điểm: khi dem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về.
Thứ hai, sử dụng vốn dau tư ra ngoài phạm vi DNNN Với mục tiêu tăng thêm thu nhập và đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, DNNN có thể thực hiện đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo hai nghĩa vụ là bảo toàn và phát triển vốn, đồng thời phải đối chiếu với những quy định tương ứng của pháp luật trong lĩnh vực đầu. Những hình thức đầu tư phổ biến hiện nay bao gồm mua bán giấy tờ có giá, liên doanh với doanh nghiệp khác, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác. Không chỉ trong phạm vi quốc gia, DNNN hoàn toàn có thể đầu tư ra nước ngoài, miễn là tuân thủ những quy định của pháp luật. Trong quá trình sử dụng vốn, các DNNN có nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo lợi ích của Nhà nước trong quá trình đầu tư vào DNNN, tạo điều kiện cho doanh nghiệp 6n định và phát triển kinh doanh hiệu quả, tăng thu nhập cho nhân viên và thực hiện nghĩa vụ với NSNN.
Các biện pháp bảo toàn vốn phô biến là: - Tuân thủ nghiêm ngặt chế độ giám sát đối với vốn và tài sản phù hợp với quy định của Nhà nước. - Lựa chọn hình thức bảo hiểm phù hợp cho từng loại tài sản mà doanh nghiệp sở hữu. Phí bảo hiểm được tính vào chi phí SXKD; - Đối với những khoản dự phòng hop lý như dự phòng cho những khoản phải thu nghi ngờ, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các loại giấy tờ có giá bị phá giá khi thực hiện hoạt động tài chính, các DNNN có thê hạch toán những chi phí này vào chi phí hợp lý của DN. Các quy định hiện hành đã nêu cụ thể cách thiết lập và sử dụng một cách khoa học, hợp lí những danh mục dự phòng nói trên.
Ngoài những biện pháp được liệt kê ở trên, đối với những khoản lỗ lũy kế từ những kì kinh doanh trước, doanh nghiệp có thể bù đắp bằng lợi nhuận của năm sau. Với những thiệt hại gây ra dưới những tác động khách quan như thiên tai, dịch, doanh nghiệp có thể hạch toán chúng một cách phù hợp vào khoản mục chi phí phù hợp với quy định hiện hành cũng như chỉ đạo của Chính phủ. Thứ ba, các hành vi bị cắm trong lĩnh vực dau tu, quan lý, sử dung vốn nhà nước tai doanh nghiệp 20 Điều 9 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp quy định cụ thé những hành vi bị cắm như sau: - “Quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm vi, trình tự, thủ tục. - Can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vào hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
- Thực hiện không đúng quyên, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. - Thực hiện không đúng quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nam giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. - Giám sát, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. - Cung cấp thông tin, báo cáo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ, không kip thời theo quy định của pháp luật.
- Tiết lộ, sử dụng thông tin do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý nhà nước cung cấp không đúng quy định của pháp luật. Hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng von tại doanh nghiệp nha nước Hiệu quả SXKD của doanh nghiệp là thước đo chính xác nhất dé đánh giá trình độ quản trị cũng như điều hành hoạt động SXKD của một doanh nghiệp. Hiệu quả SXKD được xây dựng dựa trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Trong phạm vi quản trị doanh nghiệp, người ta chủ yêu quan tâm đến hiệu quả kinh tế, tức là trình độ sử dung các nguồn lực của doanh nghiệp dé đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp lý nhất có thé. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là hoạt động cần thực hiện thường xuyên đối với mỗi doanh nghiệp, giúp ta không chỉ thấy được hiệu quả của hoạt động kinh doanh mà còn thấy được kha năng của doanh nghiệp trong quản trị và sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN là một khái niệm phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc khai thác, quản lý và sử dụng, tận dụng khả năng sinh lời của đồng vốn nhăm tôi đa hóa lợi nhuận hướng đên mục tiêu cuôi cùng của doanh nghiệp là tôi đa hóa 21 giá trị tài sản của những chủ sở hữu, góp phần giữ vững và phát huy vai trò tiên phong của bộ phận kinh tế quốc doanh. Hiệu quả sử dụng vốn được xác định bằng hình thức định lượng qua một hệ thống các chỉ số về hiệu suất, lợi nhuận, tốc độ luân chuyên vốn .Từ đó, các nhà phân tích tài chính có thé thấy được sự liên hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra trong quá trình SXKD.
Đồng vốn sử dụng càng hiệu quả thì kết quả thu được càng cao. Do đó, việc doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết cho mục tiêu phát triển vững mạnh. Bên cạnh mục tiêu kinh doanh giống như những doanh nghiệp thông thường, hiệu quả sử dụng vốn của DNNN còn được xem xét dưới góc độ xã hội, tạo nên tác động tích cực đối với nền kinh tế và đời sống của nhân dân.