Đặt vấn đề Ngày nay, căn bệnh ung thư đã không còn xa lạ đổi với chúng ta nữa. Có thé kể đến một số bệnh ung thu nguy hiểm như: ung thư phi, ung thư vú, ung thư cô tử cung, ung thư buồng trứng. Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhiều loại thuốc điều trị ung thư đã được nghiên cứu va phát triển. Một số hợp chất có tác dụng chữa bệnh có nguồn gốc thiên nhiên đã được phát hiện, một trong số đó là Paclitaxel (Có tên thương mại là taxol, Taxol” được dang ký thương hiệu bởi công ty của Mỹ là Bristol-Myers Squibb).
Taxol được phân lập lan đầu tiên từ vỏ của loài Taxus brevifolia Nutt. (Thông đỏ Thái Bình Dương) bởi Wani và Wall cùng cộng sự. Taxol có hoạt tính chống ung thư đáng chú ý va hiện nay là một loại thuốc chống ung thư quan trọng. có hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú, ung thư buồng trửng vả một số bệnh ung thư khác [22].
Tuy nhiên, do sự phát triển chậm và số lượng hạn chế của loài cây nay; hơn nữa, hàm lượng taxol trong vỏ cây thấp. Chính những hạn chế này đã thúc day việc nghiên cứu, bao gồm tổng hợp, bán tổng hợp, nuôi cấy mô, nuôi cấy tế bào, và phân lập từ nhiều loài Taxus trong đó có Taxus wallichiana Zucc. Và người ta đã tìm được hợp chất 10-Deacetyl baccatin III (10-DAB), tiền chất dùng để bán tổng hợp taxol ở cảnh, lá Thông đỏ nhiều hơn so với ở vỏ cây [16]. Chính vi vậy, 10-DAB và taxol được xem là thành phần quan trọng trong các loài Thông đỏ mà ở đó cảnh, lá tạo thành nguồn nguyên liệu chủ động và kinh tế trong việc sản xuất được liệu chữa trị ung thư.
Ở Việt Nam tồn tại 2 loài Thông đỏ là Thông đỏ lá ngắn Taxus chinensis (Pilg. ở miễn Bắc và Thông đỏ lá dai Taxus wallichiana Zucc. Các nghiên cứu ban dau cho thấy loài Thông đỏ mọc ở Lam Đồng có giá trị cao hơn nhiều loài Thông đỏ lá ngắn khi xem xét về hàm lượng các hợp chất chính trong lá (10-Deacetyl baccatin III-tiền chất cho bán tổng hợp taxol) [18]. Số lượng cá thé Thông đỏ mọc tự nhiên ở Lâm Đồng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng va được ghi vào sách đỏ.
Nằm trong khuôn khổ dự án cap nhà nước “Nghién cứu công nghệ chiết xuất hoạt chất sinh học từ lá Thông đỏ và Dừa cạn Việt Nam", tiếp tục những nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp Đặt vấn dé trước đây thuộc dự án này, chúng tôi tiên hành đẻ tài "Tôi ưu hóa quy trình chiét xuất 10-deacetyl baccatin II] (10-DAB) va taxol từ cành lá Thông đỏ (Taxus wallichiana Zucc.)” với mong muốn tận dụng triệt dé và tạo nguồn nguyên liệu trong phân tách các hoạt chất sinh học. Dé tai được thực hiện với các mục tiêu chính: = Khao sát các phương pháp chiết xuất, chon ra phương pháp tối ưu có thể áp dụng được ở quy mô pilot và sản xuất công nghiệp trong điều kiện hiện nay. ~ Khảo sát và lựa chọn dung môi chiết hiệu quả trong chiết xuất 10-DAB và taxol ở quy mô phòng thí nghiệm. - Tối ưu hóa các điều kiện chiết (Thời gian, số lan chiếU dựa trên phương pháp chiết và dung môi đã lựa chọn.
~ Đánh giá hiệu quả của quy trình chiết trên quy mô pilot. TONG QUAN TÀI LIEU Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu 2. Tổng quan tài liệu 2. Cây Thông đỏ lá dài (Gọi tắt là Thông đỏ) 2.
Phân loại [1], [2], [12], [19], [23] Tên khoa học: Taxus wallichiana Zucc. (Tên đồng nghĩa: Taxus yunnanensis W. Tên nước ngoài: Himalayan yew (Anh), Xu mi hong dou shan (Trung Quốc). Tên Việt Nam khác: Thông đỏ Hymalaya, Sam hạt đỏ lá dai, Vân Nam Hồng đậu sam.
Thông đỏ lá dai (Taxus wallichiana Zucc.) thuộc họ Thanh Tùng (7axaceae). Vị trí cây Thông đỏ trong hệ thống phân loại thực vật: - Giới (Kingdom): Plantae. ~ Loai (Species): * Chi Austrotaxus: Austrotaxus spicata, * Chi Pseudotaxus: Pseudotaxus chienii. * Chi Taxus: Taxus baccata L.
(Thông đỏ châu Au), Taxus brevifolia Nutt. (Thông do Thái Bình Duong), Taxus canadensis ifs Khóa luận tốt nghiệp Tầng quan tài liệu (Thông đỏ Canada), Taxus celebrica, Taxus chinensis (Thông đó Trung Quéc), Taxus cuspidata Zucc. (Théng 46 Nhat), Taxus floridana (Thông đỏ Florida), Taxus giobosa (Thông đó Mexico), Taxus hunnewelli, Taxus jortunei, Taxus sumatrana (Thông đó Sumatra), Taxus wallichiana Zucc. * Chi Amentotaxus: Amentotaxus argotaenia, Amentotaxus assamica, Amentotaxus formosana, Amentotaxus poilanei, Amentotaxus yunnanensis, * Chi Cephalotaxus: Cephalotaxus fortunei, Cephalotaxus griffithii, Cephalotaxus hainanensis, Cephalotaxus harringtonia, Cephalotaxus koreana, Cephalotaxus lanceolata, Cephalotaxus latifolia, Cephalotaxus mannii, Cephalotaxus oliveri, Cephalotaxus sinensis, Cephalotaxus wilsoniana * Chi Torreya: Torreya californica, Torreya fargesii, Torreya grandis, Torreya jackii, Torreya nucifera, Torreya taxifolia 2.
Mô tả thực vật Thông đỏ là một loại cây thân gỗ, thường xanh, kích thước trung bình hoặc nhỏ, chậm lớn (cây sinh trưởng cả trăm năm chỉ có đường kính không quá 35 cm). Chiều cao: 20-30 m; đường kính ngang ngực: 1-1,5 m. Cây mọc đứng. Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu 1: lá: 2: nón cái: 3: nón duc; Hình 2.
Mẫu Thông đỏ lá dai (Taxus wallichiana Zuce. cảnh non mau lục, chuyển sang nâu sau 3 hoặc 4 năm, mọc phân tán tùy theo điều kiện môi trường. Vỏ cây: phía ngoài màu nâu đó nhạt, hơi dày, bóc tách thành từng mảng hay từng tắm nhỏ, thịt màu nâu đỏ. Lá: đài 1,5-2,7 cm và rộng 2 mm, dang dai mác, thăng, đôi khí hình lưỡi liễm.
mềm, xếp hình xoắn ốc thành 2 day, mọc cách, thuôn thành đỉnh nhọn, gốc lá mọc xuống. mặt trên xanh vàng, mặt dưới xanh nhạt với các dải lỗ khí xanh nhạt hơn ở hai bên gân giữa. Lá của các chổi chính có thể mọc dựng lên hơn là xếp dãy. Nón: phân tính khác gốc.
Nón cái đơn độc, có một hạt và được bao quanh nhưng không bao kín bằng lớp áo hạt mau đỏ. Nón đực tạo thành hang ở nách 1a, nhỏ. hình trứng, dải 6 mm vả rộng 3 mm. nhưng không có cuống hoặc cuống rất nhỏ.
Hạt: hình trứng. dai 7 mm va rộng Š mm. mau đen khi chín. Thành phân hóa học ~ Các dẫn xuất của Taxan: [axa 4 (20)-1 I-dien-Š ø -9 ø - 1Ø ø ~ I3 ø -tetraol tetra acetat (1) Taxa 4 (20)-1 !-dien-Š a -9 ø -10 Ø -13 ø -tetraol-9 ø - 10 £ -diacetat (II).
a Khóa luận tốt nghiệp Tầng quan tài liệu Taxa 4 (20)-11-dien-2 a -Š5 ø -9 ø -10 8-13 a -pentaol penta acetat (III). Taxa 4 (20)-11-dien-2 ø -Š ø -7 Ø -9 ø - L0 Ø -pentaol-7 Ø -9a-10 8- triacetat-2 œ -mety! butyrat (VII), ~ Taxin đã được phân lập và xác định cau trúc. ~ 2 dẫn chat loại oxetan taxan diterpen lả: 2-debenzoyl-14 Ø -benzoyloxy- 10-deacety! baccain II] (a) và 10,15-epoxy-ll-{15->l)abeo-l0- deacetyl baccatin III (b) đã được phân lập và xác định cấu trúc. ~ Taxol, 10-deacetyl baccatin HH, brevifoliol, 13-deacety! bacatin VI, 13- acetyl brevifoliol, 7,13-diacetyl-7-debenzoy! brevifoliol, 7-debenzoyl- 10 Ø-hydroxy brevifoliol, 7-acetyl-10-deacetyl-?-debenzoy! brevifoliol, 2-acetoxy brevifoliol, | đ -hydroxy baccatin I.
— Chất Taxoid walifoliol, một chất nhựa lignal (-)-3-demetyl secoisolariciresinol, hợp chat phenolic glucosid đã được xác định cau tric. ~ _ Các hợp chất flavonoid và biflavonoid như sciadopitisin, sotetsuflavon. - Các hydroxy apocarotenoid đã được phân lập và xác định là deglycosylicarisid B4 và 12-dehydrodeglycosylicarisid B4. - Betolosid sciadopitycin, ginkgetin, sequoiaflavon, 4-coumaroyl-myo- inofitol va các acid shikimic, quinic, /-sitosterol vomifoliol, dehydrovomifoliol.
Phân bố Thông đỏ phân bê hẹp, ở các dãy phía đông Hymalaya đến tây nam Trung Quốc (Yunnan, Sichuan, Likiang, Weihai va phía tây Hubei). Ngoài ra, loai nảy con mọc ở vùng đông bắc An Độ, ven biên giới Myanmar va Tibet, Nepal, Bhutan, Đài Loan, Indonesia, Phillippin, Việt Nam. Da số Thông đỏ được phát hiện là những cg. Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu nui, bên khe sudi ở độ cao 1.500 m; còn lớp cây kẻ cận rất thưa văng, yếu ớt.
Ở Việt Nam, có hai loài Thông đỏ là Thông đỏ Trung Quốc Taxus chinensis (Pilger) Rehder thường gọi là “Thông đó lá ngăn” và Thông đỏ Hymalaya Taxus wallichiana Zucc., thường gọi là “Théng do lá dài”. ~ Thông đó lá ngắn: phân bố ở Trung Quốc, Án Độ, Malaysia vả Việt Nam. Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác ở vùng núi thuộc các tỉnh Lào Cai (Hoàng Liên Sơn), Hà Tây (Ba Vì), Nghệ An (Quỷ Châu), Hòa Bình (Mai Châu), độ cao 900- |. — Thông đỏ lá đài: đến thang 7/2006, tỏ chức IUCN đã tìm thấy loai Thông đỏ lá dài tại Afghanistan, Bhutan, tây nam Trung Quốc (Sichuan, Xizang, Yunnan), An Độ (Arunachal Pradesh, Assam, Himachal Pradesh, Jammu- Kashmir, Manipur, Sikkim, Uttar Pradesh), phía bắc Myanmar, Nepal (Vùng núi Hymalaya), Pakistan, Indonesia, Philippin, Việt Nam.
Ở Việt Nam, loài này được tìm thấy ở một số vùng núi cao thuộc các tỉnh Lào Cai (Hoàng Liên Sơn), Khánh Hòa, Lâm Đồng (Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương,.), Hà Giang (Thái An - Quản Ba), độ cao phân bố khoảng 1. Sự phân bế của Thông đỏ khá đa dạng trong khu vực Lâm Đồng, nhưng sế lượng cá thể ở mỗi nơi lại ít. Số lượng cá thể nhiều nhất tại khu vực Núi Voi (100 cây), tại đây cây không bị che phủ và phát triển tương đối tốt. Ở những nơi bị che phủ như Lán Tranh thì số lượng cá thể ít (1 cây).
Có nơi cây lại già cỗi, chẳng hạn như khu vực Cổng Trời số lượng cá thé là 20 cây nhưng lại giả cdi, gần như không phát triển nữa. d, Sinh thái Pham vi độ cao: 2.500 m so với mặt biến. Dạng rừng: rừng nhiệt đới thường xanh, trên đất phong hóa từ granit. Cây cảng lớn đồi hỏi ánh sáng cảng cao.
Trong tang ưu thé sinh thai, nơi nào có khoảng trông, lượng ánh sáng nhiều thì cây phát triển mạnh va ngược lại thì tán cây phát triển lệch nơi có ánh sáng cao. -?- Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan tài liệu Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 20-25 °C. Thông đỏ phân bỏ ở vùng khí hậu nhiệt đới núi thấp vả trung bình có hai mùa rõ rệt trong năm, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1. Thỏ nhường: thích hợp với đất có thành phan cơ giới nhẹ, thoát nước, phát triển trên đất nâu vang phiến thạch hay đất nâu đỏ trên đất bazan.
Tham thực vật: ở Lâm Đồng, Thông đỏ thường phân bé rai rắc hỗn giao với các loải cây lá rộng thường xanh và cây lá kim với kiểu rừng chính là hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim. Trong kiểu thảm nảy chúng phân bố ở tang ưu thé sinh thái hợp với các loài đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), kim giao nam (Nageia wallichiana), thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), du sam (Keteleeria evelyniana) và một số loài thuộc Fagaceae, Ericaceae, Euphorbiaceae. Hat phát tán không xa (Với bán kính 6-8 m so với tâm cây); nảy mam và phát triển nơi có độ âm cao, cường độ ánh sáng trung bình.