CHƯƠNG I. TÌNH HÌNH NGHỀ NUÔI ONG MẬT HIỆN NAY Ở NƯỚC TA Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới và thảm thực vật phong phú với rừng tự nhiên, rừng trồng, cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp do vậy rất thuận lợi cho nghề nuôi ong. Việt Nam có 5 loài ong mật bản địa và 1 loài ong nhập ngoại.Trong đó chỉ có hai loài ong mật có thể thuần hóa và nuôi được là ong nội (Apis cerana) và ong ngoại (Apis mellifera). Hiện nay, ong nội ở nước ta thuộc 2 phân loài là ong Apis cerana ceranavà Apis cerana indica ít được nuôi hơn vì sản lượng mật thấp,1 trong khi ong ngoại hay còn gọi ong Ý là loài thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và nguồn thực vật ở Việt Nam.
Đặc biệt là ở vùng Nam Bộ và Tây Nguyên là nơi có nguồn hoa tập trung (cao su, cà phê, …) do đó năng suất mật rất cao, bình quân đạt 30 kg cho một đàn trong một năm nuôi ong. Tuy nhiên, nuôi ong loài này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc cũng như cách nuôi dưỡng, phí đầu tư lớn và phải có những nguồn hoa tập trung.1 Hiện cả nước có khoảng 26.000 người nuôi ong ở 54 tỉnh/thành của cả nước. Loài ong nội thích nghi với nguồn hoa rải rác do vậy được nuôi rộng rãi ở các vùng rừng núi, đồng bằng và cả ở thành phố. Gần đây ong Ý còn được nuôi nhiều ở một số tỉnh miền Bắc như Sơn La, Hưng Yên, Bắc Giang, Hoà Bình.
Sản phẩm khai thác của ngành ong hiện nay gồm có mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa và sáp ong, nhưng sản phẩm chủ yếu là mật ong. Trong khi đó, các trang trại nuôi ong trên thế giới thường kết hợp nuôi ong lấy mật và chiết xuất nọc ong để làm nguyên liệu sản xuất thuốc hoặc mỹ phẩm. Có thể nói, ngành ong mật nước ta đang bỏ qua nguồn dược liệu giá trị này. TỔNG QUAN VỀ NỌC ONG I.
Giới thiệu về nọc ong Nọc ong mật (Apitoxin) được sinh ra từ 2 tuyến liên đới với bộ phận tiêm của ong thợ. Sự sản xuất nọc tăng suốt 2 tuần đầu của cuộc đời ong thợ trưởng thành, và đạt tối đa khi ong thợ tham gia vào phòng thủ tổ hoặc tàn phá. Nọc giảm bớt khi ong già đi. Khi một con ong chích, nó thường không chích hết 0,15 – 0,3 mg nọc được giữ trong một túi nọc đầy.2 Chỉ khi nó chích một con thú có da dai như của chúng ta thì nó mới mất kim của nó, và theo đó là cả bộ phận tiêm, túi nọc, cơ và một phần thần kinh trung ương (Hình 1 và 2).
Tuy nhiên, các dây thần kinh và cơ này tiếp tục bơm nọc thêm một lúc nữa, hoặc đến khi túi nọc hết. Việc mất các phần quan trọng trên cơ thể này hầu như luôn là điều không thể tránh khỏi của con ong. 18 Hình 1: Một con ong mật thợ đang tiêm vào da người. Nó không thể rút kim ra được (a) vì trên kim có những ngạnh nhỏ (b).
Do đó, sau lần chích, nó để lại toàn bộ phận tiêm, cả túi nọc và thần kinh trung ương. Điều này chỉ có ở ong mật mà không xuất hiện ở bất kỳ loài côn trùng tiêm nọc khác. Hình 2: Bộ phận tiêm nọc sau khi lìa khỏi cơ thể ong, để lại trên cơ thể nạn nhân Lượng gây chết người trung bình (LD50) của nọc ong cho một người trưởng thành là 2,8 mg nọc trên 1 kg cân nặng, ví dụ một người nặng 60 kg có 50% cơ hội sống sót khi bị tiêm tổng cộng 168 mg nọc ong. Nếu cho rằng mỗi con ong tiêm tất cả nọc của nó và không rút kim ra nhanh với 0,3 mg đọc mỗi phát chích, thì 600 phát chích rất có thể giết chết một người như trên.
Với một đứa bé nặng 10 kg, chỉ cần 90 phát là đủ để gây chết.2 Do đó, việc nhanh chóng rút kim sau mỗi phát chích là rất quan trọng. Tuy nhiên, hầu hết cái chết lại là kết quả của một hoặc một vài vết chích do các phản ứng dị ứng, suy tim hay ngạt thở do bị sưng ở cổ hoặc miệng.3 Tuy nhiên, nếu dùng ở một lượng nhỏ, nọc ong có thể có lợi trong việc chữa một số lượng lớn các bệnh nhẹ. Giá trị của liệu pháp này đã được biết từ các nền văn minh cổ đại. Ngày nay, nọc ong được ứng dụng làm thuốc trị bệnh cho người và gia súc.
Tính chất vật lý của nọc ong Nọc ong là một chất lỏng không màu. Hàm lượng nước chiếm từ 50 – 70 %, tan tốt trong nước, tan hoàn toàn trong acid loãng, không tan trong etanol. Nọc ong có mùi thơm giống mật ong, vị cay, đắng, chua, nóng và pH khoảng 4,5 – 5,5. Dễ bị 19 phân huỷ khi tiếp xúc trực tiếp ánh nắng mặt trời và nhiệt độ cao, bền ở nhiệt độ thấp.
Dễ bị phá hủy bởi các chất oxi hóa: KMnO4, K2SO4, các halogen như clo và brom.2 Sau khi sấy khô, nọc là một loại bột màu trắng nếu được bảo quản tốt tránh quá trình oxi hoá. Nếu không được bảo quản tốt, quá trình oxi hoá sẽ thay đổi màu sắc từ màu trắng sang màu vàng nâu. Sự thay đổi gây ra do quá trình oxi hoá các thành phần nhất định của nọc ong có thể sẽ làm giảm tác dụng chữa bệnh của nó (Hình 3).2 Hình 3: Bột nọc ong ở dạng khô I. Thành phần hóa học của nọc ong Nọc ong bao gồm nhiều loại peptide như melittin, apamin, adolapin và các loại Mast Cell Degranulating peptide (MCD peptide).
Ngoài ra, nọc ong còn có chứa các enzym (PLA2), histamine, epinephrin và các thành phần không phải peptide như lipid, carbohydrate và các amino acid tự do. Dạng tươi và dạng khô đều có hoạt tính sinh học giống nhau, chỉ khác nhau về thành phần (Bảng 1).4, 5 Bảng 1: Thành phần và hoạt tính sinh học của nọc ong Thành phần Phân tử Hoạt tính sinh học (% hàm lượng khô) khối Peptide Hoạt động mạnh trên bề mặt màng tế bào lipid. Hoạt động giải phóng hemoglobin. Melittin Chống ung thư.
(40 – 50 %) 2840 Hoạt hoá PLA2. Hoạt động kháng khuẩn và kháng nấm. Giảm đau và kháng viêm. Apamin Làm bất hoạt bơm canxi ở màng tế bào.
2036 (2 – 3 %) Độc tố kháng ung thư. Làm giảm histamin. MCD peptide 2588 Kích hoạt các protein G nhạy cảm với độc tố (2 – 3 %) bệnh ho gà. 20 Kháng viêm và giảm đau.
Adolapin Chống viêm thông qua sự ức chế của 11. Chất ức chế protease 9000 - (< 0,8 %) Minimin (2 – 3 %) 6000 - Procamin (1,4 %) - Procamin A, B (0,5 %) - Secarpin (0,1 %) Ái lực liên kết lớn các vùng trong não chuột. Melittin F (0,01 %) - Tác dụng giải phóng β-ardrenaline. Cardiopep (< 0,7 %) Chống loạn nhịp tim.
Enzym Kháng nguyên và gây dị ứng. Tương tác với melittin. Kích hoạt các tế bào thần kinh và các tế bào thần PLA2 19. (10 – 12 %) Tái tạo dây thần kinh.
Tạo thuận lợi cho chất dẫn truyền thần kinh phát hành. Giải phóng histamin.000 Gây dị ứng. (1,5 – 2 %) Enzym thuỷ phân acid hyaluronic.000 - phosphomonoesterase (1 %) Amine Histamin (1,5 %) 307,14 Chủ vận ở các thụ thể histamin. Dopamin 189,64 Chủ vận ở các thụ thể dopamin.
(0,13 – 1 %) Norepinephrin 169,18 - (0,1 – 0,7 %) Các dạng khác Acid r-Aminobutyric 189,64 - (0,13 – 1 %) 21 Acid β-Aminoisobutyric 169,18 - (0,1 – 0,7 %) Melittin5 Melittin là một peptide có tính chất như một chất hoạt động bề mặt, tan trong nước, bao gồm 26 amino acid với 6 điện tích dương. Khối lượng phân tử của melittin là 2.846,46 g/mol, với công thức phân tử là C131H229N39O31. Melittin thể hiện như một chất hoạt động huyết học và kháng vi sinh vật cực mạnh, có tác dụng giảm đau đáng kể, là một chất khuếch đại hoạt tính phospholipase A2, thể hiện cả tính kháng viêm, kháng virus và kháng khối u. Ngoài ra, có nghiên cứu còn cho thấy melittin có khả năng liên kết với màng tế bào hồng cầu trong máu ở dạng phân tán trong môi trường đẳng trương NaCl nhiệt độ phòng, với hằng số phân l ly là 3 x 10-8 M và dung lượng liên kết tối đa là 1.8 x 107 phân tử melittin trên một tế bào hồng cầu.
Khi khoảng 1% mặt liên kết với melittin đã đầy, bắt đầu xảy ra hiện tượng phân giải tế bào, cho đến khi có khoảng 2 x 106 phân tử đã liên kết với tế bào thì sự phân giải diễn ra đạt 50%. Sự ly giải tăng tốc rất nhanh trong vài phút đầu, sau đó chậm lại rồi ngừng hẳn sau khoảng 1 giờ. Trong quá trình ly giải, có sự thay đổi tính thẩm thấu bề mặt của tế bào: nồng độ nội Na tăng và nồng độ nội K giảm. Cũng như sự phân giải, quá trình tích lũy Na và mất K tăng nhanh ở vài phút đầu tiếp xúc với melittin nhưng sau đó dừng khi nồng độ Na, K và hemoglobin nội bào cân bằng trong giờ đầu tiên.
Apamin5 Apamin là chất độc thần kinh nhẹ gồm 18 loại acid amin có chứa 2 cầu disulfua (-S- S-). Apamin có khả năng làm bất hoạt bơm canxi ở màng tế bào, do đó sẽ làm tê liệt hoạt động của hệ thần kinh và hoạt động cơ. Ở một mức độ nào đó nó sẽ gây ra liệt cơ hô hấp, liệt thần kinh và tử vong. Phospholipase A24 Phospholipase A2 (PLA2) chiếm 10 – 12 % nọc ong dạng khô, có ảnh hưởng đến chứng viêm sưng và sự kích thích đau.
PLA2 là một loại enzym giải phóng acid béo từ các nhóm carbon thứ hai của glycerol. PLA2 cho thấy sự tương tác phức tạp với melittin có thể ảnh hưởng đến khả năng bài tiết PLA2 hoặc sự ức chế này phụ thuộc vào tỷ lệ peptide và phospholipid. Nó có tác dụng trong phạm vi của các tế bào liên quan đến các quá trình làm đau bao gồm cả tế bào hình sao, tế bào thần kinh và các tế bào thần kinh đệm. PLA2 được tham gia trong việc tái tạo thần kinh, nhưng cũng tham gia trong dẫn truyền thần kinh glutamate trong sừng lưng của tủy sống, và các hiệu ứng thần kinh chậm trong ống nghiệm và trong cơ thể.
Tính chất dược lý 6- 8 Nọc ong vốn được xem là một loại độc dược, bởi nó có chứa khá nhiều acid formic. Nếu một người không may bị ong đốt có thể sẽ gặp phải các hiện tượng như sưng tấy, đau buốt. nặng hơn có thể là ngộ độc, dị ứng, thậm chí tử vong. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, ong đốt có thể gây bệnh cảnh nguy hiểm, trong đó gây sốc phản vệ.
Đây là phản ứng rất mạnh của cơ thể.