CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về vốn 1. Khái niệm Để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, điều đầu tiên các doanh nghiệp quan tâm là làm sao có đủ vốn và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất. Vậy vốn là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình? Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện. Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật.Mác cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát triển. Theo David Begg, Standley Fischer, Ridige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”: vốn là một loại hàng hóa nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất ra các hàng hóa dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng… Vốn còn được coi là một trong bốn yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp: vốn, nhân lực, công nghệ và tài nguyên. Vì vậy vốn đóng vai trò hết sức quan trọng: Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời (theo giáo trình tài chính doanh nghiệp – Nhà xuất bản Thống kê năm 2007 của PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, TS.
Bạch Đức Hiền). Ngoài ra, đứng dưới các góc độ khác nhau có thể hiểu vốn với các khái niệm khác nhau. 5 Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vất chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa. Nó giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người chủ sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Chính sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thỏa mãn các yêu cầu, quan niệm. Tuy nhiên, ta có thể hiểu một cách khái quát nhất: Vốn là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích lũy được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Đặc điểm vốn Vốn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản.
Nghĩa là vốn đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như: nhà kho, đất đai, trang thiết bị, nguyên liệu, hàng tồn kho, chất xám, vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại… Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai. Tỷ lệ lãi suất là sự đo lường thời giá của tiền tệ, nó phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để thu lợi nhuận. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chính xác hiệu quả của đầu tư. 6 Vốn luôn vận động vì mục tiêu sinh lời.
Khởi đầu của vốn là tiền, sau một quá trình vận động và biến đổi, kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở về trạng thái ban đầu là tiền. Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, nghĩa là đồng vốn được sử dụng có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn được xem là một hàng hóa đặc biệt. Hàng hóa vốn không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và phải trả cho người chủ sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi.
Như vậy, lãi suất là giá phải trả cho việc được quyền sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định. Việc mua bán diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán vốn cũng tuân theo quan hệ cung – cầu trên thị trường. Qua đây có thể thấy vốn là nguồn lực có hạn, cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. Do đó, doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Phân loại vốn Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Để có thể quản lý vốn một cách hiệu quả, doanh nghiệp cần phải phân loại vốn. Phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình.
Với mỗi tiêu thức phân loại, vốn của doanh nghiệp bao gồm những cấu phần khác nhau như sau: Phân loại theo nguồn hình thành vốn Cách phân loại vốn theo nguồn hình thành vốn có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc thiết lập cơ cấu nguồn vốn hợp lý, vì doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu hay nợ để tài trợ cho hoạt động của mình đều phải chịu chi phí sử dụng vốn. Chi phí sử dụng vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Chi phí sử dụng vốn có thể xem như tỷ suất sinh lời mà doanh nghiệp phải tạo ra từ những dự 7 án đầu tư để đảm bảo duy trì giá cổ phiếu trên thị trường, hoặc có thể là mức tỷ suất sinh lời tối thiểu mà các nhà cung ứng vốn trên thị trường yêu cầu nhằm đảm bảo sự cung ứng vốn của họ đối với doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp.
Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp của mình. Có ba nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là: - Vốn kinh doanh: gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinh doanh - Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà nước cho phép hoặc các thành viên quyết định Các quỹ của doanh nghiệp: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng b. Vốn vay Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người vay cả lãi và gốc.
Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp…) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Thông thường, doanh nghiệp phải kết hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo đủ vốn cho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, và cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý có thể xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn, tổ chức sử dụng vốn sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh 8 doanh, vừa đảm bảo an toàn về mặt tài chính với chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất. Phân loại theo thời gian huy động vốn a. Vốn thường xuyên Vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp.
Nguồn vốn này bao gồm: - Vốn chủ sở hữu (đã trình bày ở trên) - Vốn vay dài hạn của doanh nghiệp: là các khoản vay dài hạn hơn một năm hoặc trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay b. Vốn tạm thời Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng. Như vậy, ta có: TS = TSLĐ + TSCĐ = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu = Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản cố định.
Phân loại theo công dụng kinh tế 9 Theo công dụng kinh tế, vốn được chia thành vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính. Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái: - Hinh thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các doanh nghiệp.