Chương I Giới thiệu Chương II Lược khảo tài liệu Chương III Giới thiệu về VMI và xây dựng mô hình Chương IV Triển khai mô hình và phân tích kết quả Chương V Kết luận và kiến nghị SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Trang – B1805178 Vương Thị Ái Ngọc – B1805149 4 Chương II:Lược khảo tài liệu CBHD: Ths. Huỳnh Tấn Phong CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Trong bối cảnh cạnh tranh thị trường ngày càng khốc liệt, chuỗi cung ứng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp. Có thể khẳng định, chuỗi cung ứng là một trong các yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp so với đối thủ cùng ngành, cùng lĩnh vực. Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management), viết tắt là SCM là việc quản lý dòng hàng hóa, dịch vụ và bao gồm tất cả các quy trình từ biến đổi nguyên liệu thô thành sản phẩm cuối cùng, sau đó phân phối tới các khách hàng.
Mục tiêu của chuỗi cung ứng là tối đa tổng giá trị của chuỗi tạo ra bằng cách thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng thông qua sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên. Bao gồm khả năng phân phối, dự trữ, lao động, lưu kho, đồng thời giữ mức chi phí của chuỗi cung ứng ở mức tối thiểu. Quản trị chuỗi cung ứng ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: Tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, giảm chi phí giá thành mỗi sản phẩm, cải thiện vòng cung ứng đơn hàng… Nhắc đến chuỗi cung ứng thì không thể thiếu bộ phận quan trọng đó là quản lí tồn kho.
Hiện nay, việc quản lí tồn kho ngày càng đa dạng với nhiều phần mềm, hình thức, phương pháp mà mỗi công ty, doanh nghiệp đều tìm cho mình một phương án phù hợp… Trong quá trình kinh doanh việc không kịp bán hết các mặt hàng là điều không thể tránh khỏi, vậy nên giải quyết hàng tồn kho là việc hết sức quan trọng. Để làm tốt nhiệm vụ quan trên luôn cần đến những nhà quản lí hàng tồn kho. Giảm chi phí là một trong những mục tiêu chính của phương pháp tiếp cận Quản lý tồn kho do nhà cung cấp quản lý. Theo Govindan (2015) VMI là một phương pháp mà theo đó chuỗi cung ứng có thể được quản lý, và nhờ việc ra quyết định tập trung và chia sẻ thông tin liên tục, lợi ích mang lại cao hơn nhiều so với trường hợp chuỗi cung ứng truyền thống.
Trong chuỗi cung ứng VMI có thể được phân loại thành mô hình một SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Trang – B1805178 Vương Thị Ái Ngọc – B1805149 5 Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Ths. Huỳnh Tấn Phong nhà cung cấp và một nhà sản xuất, một số tác giả xem xét mô hình một nhà cung cấp đến nhiều nhà sản xuất và đa nhà cung cấp đến đa nhà sản xuất. Banerjee (1986) đã đề xuất một mô hình quản lý tồn kho tích hợp giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất, bao gồm một nhà cung cấp, một nhà sản xuất và giả định rằng tốc độ sản xuất là hữu hạn. Ông kết luận rằng quyết định chung về đặt hàng và điều chỉnh giá có thể có lợi nhất về mặt kinh tế cho người bán và người mua trong chuỗi cung ứng.
Guan và Zhao (2010) dựa trên chính sách đánh giá liên tục, tác giả xây dựng mô hình quản lý tồn kho (VMI) cho một nhà cung cấp và một nhà sản xuất (single-single), trong nghiên cứu này tác giả sử dụng chính sách xem xét liên tục (r,Q) để kiểm soát tồn kho tại nhà cung cấp và nhà bán lẻ theo hợp đồng “chủ sở hữu”. Yi và Sarker (2013) xây dựng một hệ thống sản xuất một nhà cung cấp và một nhà bán lẻ trong đó thời gian dẫn đầu có thể kiểm soát được bằng cách đầu tư theo thỏa thuận dài hạn giữa hai bên. Khan và cộng sự. (2016) thiết kế chuỗi cung ứng (SC) một nhà cung cấp và một nhà bán lẻ duy nhất bằng cách xem xét các mặt hàng bị lỗi.
Mô hình của họ đã được xây dựng để có được kích thước lô hàng và số lượng lô hàng tối ưu, và thỏa thuận kho ký gửi VMI (VMI-CS). Woo và cộng sự. (2001) đã trình bày một mô hình quản lý tồn kho tích hợp bao gồm một nhà cung cấp và nhiều người mua. Tác giả cho rằng giảm tổng chi phí chung giữa các nhà cung cấp và người mua thu được thông qua việc giảm chi phí đặt hàng.
Huang và Yao (2005) đã nghiên cứu các chiến lược trong một mô hình kiểm kê với các mặt hàng khi có một nhà cung cấp và nhiều nhà sản xuất và đề xuất một thuật toán để giải quyết. Tác giả đã trình bày hai mô hình với thời gian vận tải ngẫu nhiên bình thường. Sadeghi và cộng sự. (2013) đã nghiên cứu chuỗi cung ứng nhiều nhà bán lẻ và nhiều nhà cung cấp trong đó mắc xích đầu đều là thương nhân.
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều nghiên cứu trong một chuỗi cung ứng thì mắc xích đầu là thương nhân hoặc các nhà kinh doanh, không phải là nhà sản xuất. Bài báo này mở rộng mô hình VMI cho chuỗi cung ứng nhà sản xuất đơn lẻ nhiều nhà cung cấp trong đó các mắc xích đầu của chuỗi cung ứng có thể là thương nhân và/hoặc nhà sản xuất và mắc xích cuối là nhà sản xuất. Mateen và Chatterjee (2015) tìm ra giải pháp cho nhà cung cấp về chính sách bổ sung cho nhà bán lẻ về: số lượng bổ sung trong mỗi chu kỳ giao hàng, thời gian bổ sung và kích thước lô hàng bổ sung, bên cạnh đó tác giả phát triển một mô hình VMI cho vấn đề tiết kiệm chi phí đối với trường hợp bổ sung đơn hàng từ một nhà cung cấp đến nhiều nhà bán lẻ (single – multi). Rad và cộng sự.
(2014) đã mở rộng nghiên cứu so sánh sang mô hình chuỗi cung ứng với SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Trang – B1805178 Vương Thị Ái Ngọc – B1805149 6 Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Ths. Huỳnh Tấn Phong một nhà cung cấp và hai người mua, và họ kết luận rằng có thể đạt được mức giảm tổng chi phí chuỗi cung ứng cao hơn bằng cách sử dụng VMI. Golpîra (2020) đưa ra một cách tối ưu bài toán thiết kế mạng CSC đa dự án, đa tài nguyên, đa nhà cung cấp với cách tiếp cận được giới thiệu tích hợp một cách tối ưu vấn đề thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng với vấn đề vị trí cơ sở để có được một mô hình toàn diện thông qua chiến lược VMI. Mô hình có khả năng lập lịch trình tài nguyên tối ưu, chủ động và linh hoạt cho các dự án về thời gian và phân phối dọc theo quy mô lớn và phức tạp hơn.
Sau đó, Battini et al. (2010) đã phát triển mô hình quản lý tồn kho cho chuỗi cung ứng một nhà cung cấp và nhiều nhà bán lẻ. Họ kết luận rằng chính sách kho ký gửi mang lại lợi ích cho chuỗi cung ứng ở tất cả các cấp. Bên cạnh những nghiên cứu về lợi ích kinh tế mà VMI mang lại sử dụng các phương pháp định tuyến, một số tác giả đã kết hợp những thuật toán khác để giải quyết mô hình.
Park và cộng sự. (2016) đã nghiên cứu chuỗi cung ứng hai cấp bao gồm một nhà sản xuất và nhiều nhà bán lẻ thuộc hệ thống VMI. Họ đã sử dụng thuật toán di truyền (GA) để tối ưu hóa vấn đề định tuyến và lợi nhuận của chuỗi cung ứng khi doanh số bán hàng bị mất được cho phép. Pramudyo và Luong (2017) đã phát triển mô hình cho một nhà cung cấp và một nhà bán lẻ trong hệ thống VMI.
Họ đã sử dụng tỷ lệ cầu ngẫu nhiên trong mạng lưới chuỗi cung ứng VMI của mình để giảm thiểu tổng chi phí hệ thống. Cuối cùng, họ đã giải quyết mô hình bằng cách sử dụng thuật toán di truyền. Mô hình số lượng đặt hàng được phát triển bởi Pasandideh, Niaki và Nia (2011) sử dụng chính sách VMI. Họ đề xuất một mô hình lập trình số nguyên phi tuyến tính để tìm các đại lượng đặt hàng và các mức sắp xếp tồn đọng tối đa với việc áp dụng thuật toán di truyền để tìm ra các giải pháp tối ưu.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ xem xét một sản phẩm hoặc mặt hàng tồn kho được quản lý bởi VMI và mắc xích ban đầu chỉ là thương nhân hoặc chỉ là nhà sản xuất. Tuy nhiên, trong chuỗi cung ứng sản xuất – cụ thể trong luận văn này là chuỗi cung ứng sản xuất bánh Pía, liên quan đến nhiều nhà cung cấp nguyên liệu có cả nhà cung cấp là nhà phân phối và nhà cung cấp là nhà sản xuất, nhiều mặt hàng tồn kho nên có độ phức tạp hơn một sản phẩm tồn kho duy nhất. Cụ thể hơn, nghiên cứu này phân tích cách thiết lập mức phù hợp của giới hạn hàng tồn kho và chi phí phạt quá tải, đồng thời xem xét một phương pháp mới để tính toán vận tải chi phí thực tế hơn dựa vào lượng vận tải cụ thể. Bài nghiên cứu đã sử dụng giải thuật di truyền (GA) và sử dụng công cụ phân tích Matlab để tìm lời giải tối ưu cho mô hình VMI.
SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Trang – B1805178 Vương Thị Ái Ngọc – B1805149 7 Chương III:Giới thiệu về VMI và xây dựng mô hình CBHD: Ths. Huỳnh Tấn Phong CHƯƠNG III GIỚI THIỆU VỀ VMI VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH 3.1 Giới thiệu về VMI 3.1 Giới thiệu về VMI Vendor Managed Inventory – VMI hay Quản lý tồn kho bởi nhà cung cấp là phương thức tối ưu hóa hoạt động của chuỗi cung ứng trong đó nhà cung cấp chịu trách nhiệm về mức độ lưu kho của nhà bán lẻ. Nhà cung cấp được tiếp cận với các dữ liệu về hàng hóa trong kho của nhà bán lẻ và chịu trách nhiệm điều phối các đơn đặt hàng. Mô hình VMI đã được ứng dụng bởi rất nhiều chuỗi bán lẻ nổi tiếng như Wal-Mart.
Khi áp dụng VMI, việc bóp méo và khuếch đại nhu cầu thị trường khi thông tin được chuyển từ các nhà bán lẻ đến các nhà cung ứng (hay còn gọi là hiệu ứng BullWhip) được giảm thiểu. Hiện tượng cháy hàng diễn ra ít hơn, và chi phí vận tải hàng hóa được cắt bớt. Thay vào đó, với mô hình VMI, nhà cung cấp sẽ chủ động quản lý việc bổ sung hàng tồn kho cho các nhà bán lẻ, thay vì chỉ nhận đơn hàng và vận tải theo yêu cầu của các nhà bán lẻ như lúc trước.