Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Luật hình sự nhà nước Việt Nam quy định về Tội tham ô tài sản giai đoạn 1945 đến 1985 Cách mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời. Chính quyền non trẻ đã bắt tay ngay vào công cuộc kiến thiết đất nước đồng thời sẵn sàng chống lại âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch bên ngoài và giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu. Đây là một công việc hết sức mới mẻ và khó khăn, một mặt, chúng ta sử dụng những người từng tham gia bộ máy của chính quyền cũ, nhưng có tinh thần yêu nước và hiểu biết công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội; mặt khác và chủ yếu là huy động sức lực, trí tuệ và tinh thần của cán bộ và quần chúng cách mạng, nhưng chưa hề có kinh ngiệm về quản lý.
Cho nên chính quyền tỏ ra lúng túng và cũng đã bắt đầu có hiện tượng một số người cố tình lợi dụng địa vị của mình, trực tiếp quản lý tiền, tài sản nhà nước trong bộ máy chính quyền để mưu lợi cá nhân để tham ô… Giai đoạn này, các chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với tội xâm phạm sở hữu được thể hiện rõ nét. Nhằm đề cao trách nhiệm của cán bộ đồng thời nghiêm trị các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt của công, sắc lệnh số 223 – SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 quy định về tội biển thủ công quỹ đã được ban hành, trong đó quy định “Tội công chức biển thủ công quỹ. bị phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật. Người phạm tội còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản.
Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên”. Với một số tài sản nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển kinh tế, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản để bảo vệ như Sắc lệnh số 12 ngày 12 tháng 3 năm 1949 về việc phạt tội ăn cắp, lấy trộm tài sản của nhà binh. Việc quản lý tài sản nhà nước cũng đòi hỏi phải tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải bổ sung Luật và có biện pháp bảo đảm cho những Luật đó được thi hành một cách có hiệu quả. Đó là yêu cầu khách quan của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Thời kỳ này, tình hình xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa có những diễn biến phức tạp, đáng chú ý là có nhiều kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, làm rối loạn chế độ quản lý, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, đến tư tưởng đạo đức của cán bộ, nhân viên và nhân dân. Trong các văn bản pháp luật, các quy định về các tội phạm được trình bày khá đơn giản, đường lối chính sách xử phạt chưa được rõ ràng nên tác dụng giáo dục bị hạn chế. Do đó, các ngành công an, kiểm sát, toà án gặp nhiều khó khăn khi vận dụng, không thống nhất về đường lối xử lý. Trước tình hình đó, 21 tháng 10 năm 1970, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm xã hội chủ nghĩa nhằm thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh của Nhà nước ta đối với hành vi xâm phạm tài sản của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nói chung và tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm xã hội chủ nghĩa gồm 3 chương, 25 điều bao gồm nhiều tội danh và mức hình phạt, trong đó có tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Điều 8 của Pháp lệnh này quy định về Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa với nội dung: “Kẻ nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm: Tái phạm nguy hiểm; Có tổ chức; Có móc ngoặc; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; Tham ô tài sản có số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt; Dùng tài sản tham ô vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình“.
Theo đó, tội tham ô tài sản chưa quy định tài sản bị chiếm đoạt phải do người có chức vụ, quyền hạn quản lý. Điều luật cũng chưa cụ thể hoá định lượng giá trị tài sản phạm tội, chỉ quy định chung chung tham ô tài sản có số lượng lớn, rất lớn, giá trị đặc biệt khiến các cơ quan chức năng áp dụng luật khá khó khăn và không thống nhất. Những hoạt động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa cần phải được trừng trị nghiêm minh và kịp thời, nhất là đối với những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa. Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm xã hội chủ nghĩa đã cụ thể hoá trách nhiệm của mọi người đối với việc tôn trọng và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa - một công cụ tốt góp phần đắc lực ngăn chặn tội phạm nói chung và tội phạm tham ô nói riêng.
Ngày 15 tháng 3 năm 1976, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam ban hành Sắc lệnh 03-SLT ở miền Nam trước ngày chính thức thống nhất tổ quốc, tội tham ô được quy định Điều 4 - Tội xâm phạm tài sản công cộng. Tài sản công cộng bao gồm tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của các tổ chức xã hội và của tập thể nhân dân. Tài sản công cộng là thiêng liêng, tuyệt đối không được ai xâm phạm. Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, tham ô.
thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm. Phạm tội trộm cắp, tham ô. mà tài sản chiếm đoạt rất lớn, hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình.” 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com So với Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm xã hội chủ nghĩa năm 1970 thì sắc lệnh 03 – SLT không miêu tả các dấu hiệu tội phạm, đây là nhược điểm của văn bản này nên ngày 8 tháng 3 năm 1978, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên bộ số 61 hướng dẫn thi hành pháp luật thống nhất, nhằm tiến tới vận dụng thống nhất Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trong cả nước.
Với sự phát triển của khoa học pháp lý nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, năm 1985 chúng ta đã ban hành Bộ luật Hình sự đầu tiên với 12 chương, 280 điều. Tại Điều 133, tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm trực tiếp quản lý, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp say đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm: Thông đồng với người khác ở trong hoặc ngoài cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Như vậy, điều luật đã quy định rõ tội tham ô tài sản phải là: thứ nhất, do người có chức vụ, quyền hạn là chủ thể; thứ hai, phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt; thứ ba, đối tượng là tài sản xã hội chủ nghĩa mình có trách nhiệm trực tiếp quản lý. So với Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm xã hội chủ nghĩa, điều 133 BLHS 1985 đã tăng thời hạn hình phạt tù tối thiểu từ bảy tháng lên một năm. Quy định này là cần thiết nhằm tăng cường tính răn đe, trừng phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi này gây ra. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 20/3/1993, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên ngành số 02/TTLN về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật hình sự được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22-12- 1992.
Trong thời gian đó, tội phạm tham ô đang diễn biến phức tạp, các điều khoản của Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung lần này đều theo hướng tăng nặng, nghiêm khắc hơn so với quy định cũ. Nên, đối với những người mà từ ngày 2-1-1993 trở đi phạm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định trong Luật được thông qua ngày 22-12-1992, thì phải xử phạt nghiêm khắc theo đúng quy định của Luật này, còn đối với những người mà trước ngày 2- 1-1993 phạm một trong các tội được quy định trong Luật mới được thông qua ngày 22-12-1992, thì về nguyên tắc là phải áp dụng các quy định cũ nhưng có tham khảo các quy định mới để quyết định hình phạt cho thoả đáng. Ngày 10 tháng 5 năm 1997, BLHS được sửa đổi, bổ sung và tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được sửa đổi như sau: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.